Xu Hướng 2/2024 # 6 Bài Soạn “Cách Làm Văn Lập Luận Chứng Minh” Lớp 7 Hay Nhất # Top 10 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết 6 Bài Soạn “Cách Làm Văn Lập Luận Chứng Minh” Lớp 7 Hay Nhất được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Pwqy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Bài soạn “Cách làm văn lập luận chứng minh” số 1

I. Các bước làm bài văn lập luận chứng minh

1. Tìm hiểu đề và tìm ý

2. Lập dàn ý

3. Viết bài

4. Đọc lại và sửa chữa

II. Luyện tập

– Cả hai đề văn đều rất giống chân lí ở bài văn mẫu: có chí thì nên

– Tuy nhiên cách thức diễn đạt khác nhau:

+ Đề 1: lấy một hành động của ý chí làm nguyên nhân có công mài sắt là có chí và một kết quả cụ thể có ngày nên kim tức là thì nên

+ Đề 2: hai dòng đầu nói rõ hơn câu tục ngữ, hai dòng sau dùng bằng chứng để thấy khả năng diệu kì của chí

– Làm theo các bước như sau

Đề 1

A, MB: giới hiệu vấn đề: có công mài sắt có ngày nên kim

B,TB

– Giải thích nghĩa của câu tục ngữ: có chí phấn đấu chăm chỉ rèn luyện ắt có ngày thành công

– Chứng minh câu tục ngữ

+ Mọi việc đều cần sự cố gắng phấn đấu, nỗ lực không ngừng của bản thân mới đem lại hiệu quả

+ Thành quả luôn là phản lực tương đương của công sức ta đã bỏ ra

+ Lười nhác chỉ chuốc lấy thất bại

+ Dẫn chứng

– Bài học rút ra cho bản thân

C, KB: khái quát lại vấn đề

Đề 2

A, MB: giới thiệu vấn đề

B, TB

– Giải thích nội dung bài thơ: có chí ắt làm nên

– Chứng minh chân lí:

+ Không có việc gì làm khó được ta khi ta đã có quyết tâm

+ Chí khí là nguồn sức mạnh dồi dào to lớn đưa ta đi tới thành công

+ Không có chí khí ta mãi chẳng thể nào có được thành công mình muốn

– Bài học

C, KB: khái quát vấn đề

Bài soạn “Cách làm văn lập luận chứng minh” số 5

Bài soạn “Cách làm văn lập luận chứng minh” số 1

KIẾN THỨC CẦN NẮM VỮNG

Muốn làm một bài văn lập luận chứng minh thì phải cần thực hiện bốn bước: Tìm hiều đề và tìm ý, Lập dàn bài, Viết bài, Đọc lại và sửa chữa.

Cho đề văn: Nhân dân ta thường nói “Có chí thì nên”. Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ đó.

1. Tìm hiểu đề và tìm ý

a) Xác định yêu cầu chung của đề.

– Chứng minh tư tưởng của câu tục ngữ là đúng đắn

b) Câu tục ngữ khẳng định điều gì?

– Vai trò và ý nghĩa to lớn của chí trong cuộc sống.

+ Chí là hoài bão, ý chí, nghị lực, sự kiên trì

+ Ai có chí thì sẽ thành công.

c) Chứng minh:

– Về lí lẽ: Bất cứ việc gì như việc học ngoại ngữ nếu không kiên tâm thì có học được không?

Nếu gặp khó khăn mà không có ý chí vượt lên thì không làm được gì.

– Về thực tế là những tấm gương tiêu biểu (đọc lại bài văn Đừng sợ vấp ngã để lấy dẫn chứng).

2. Lập dàn bài

a) Mở bài: Câu tục ngữ đúc rút một chân lí: có ý chí, nghị lực trong cuộc sống sẽ thành công.

b) Thân bài:

– Xét về lí:

+ Chỉ cho con người vượt trở ngại.

+ Không có chí sẽ thất bại.

– Xét về thực tế:

+ Những tấm gương thành công của những người có chí.

+ Chí giúp con người vượt qua những chướng ngại lớn

c) Kết bài:

– Phải tu dưỡng chí.

– Bắt đầu chuyện nhỏ sau này là chuyện lớn.

3. Viết bài

4. Đọc lại và sửa chữa

B – PHẦN LUYỆN TẬP

Cho hai đề văn sau:

Đề 1: Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ: Có công mài sắt, có ngày nên kim.

Đề 2: Chứng minh tính chân lí trong bài thơ:

Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên.

(Hồ Chí Minh)

Em sẽ làm theo các bước như thế nào? Hai đề bài có gì giống và khác so với đề văn đã làm mẫu ở trên?

Trả lời:

* Các bước làm đề văn chứng minh:

– Tìm hiểu đề và tìm ý

– Lập dàn bài

– Viết bài

– Đọc lại và sửa chữa.

* So sánh điểm giống và khác nhau của hai đề văn trên so với đề văn mẫu “Có chí thì nên”:

– Điểm giống nhau: Cả hai câu tục ngữ và bài thơ đều có ý khuyên răn con người phải bền lòng, không được nản chí trước khó khăn của công việc và hoàn cảnh.

– Điểm khác nhau:

+ Có chí thì nên thiên về khẳng định quyết tâm của con người.

+ Có công mài sắt có ngày nên kim thiên về nói đến sự cần mẫn, kiên trì trong công việc.

+ Bài thơ của Hồ Chí Minh có hai ý:

Bài soạn “Cách làm văn lập luận chứng minh” số 5

Bài soạn “Cách làm văn lập luận chứng minh” số 6

Bài soạn “Cách làm văn lập luận chứng minh” số 5

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Lập luận chứng minh

Trong văn nghị luận, lập luận chứng minh là cách làm sáng tỏ vấn đề bằng các dẫn chứng hoặc lí lẽ đã được khẳng định trong thực tiễn. Khi lập luận chứng minh, ta có thể dùng dẫn chứng (sự việc, sự kiện, con số,…), dùng lí lẽ hoặc dùng cả dẫn chứng và lí lẽ.

Chứng minh nhằm mục đích tác động đến người đọc để họ tin vào ý kiến mà mình đã đưa ra đúng, là phải.

2. Những điều lưu ý khi lập luận chứng minh

Khi lập luận chứng minh, cần phải lưu ý một số điểm sau :

– Xác định rõ vấn đề cần chứng minh.

– Biết tập trung chứng minh điểm nào, mặt nào người đọc chưa tin hoặc chưa tin hẳn. Những gì người đọc đã tin, đã biết thì có thể chỉ cần lướt qua, không cần chứng minh nữa.

– Các dẫn chứng hoặc lí lẽ đưa ra phải phù hợp với vấn đề đang bàn, phải đủ để thuyết phục niềm tin của người đọc.

– Trong các bài nghị luận, lập luận chứng minh thường được dùng kết hợp với lập luận giải thích và ngược lại, lập luận giải thích thường được dùng kết hợp với chứng minh. Khi người đọc chưa hiểu vấn đề nào đó, ta cần phải giải thích để giúp cho họ hiểu. Còn khi họ chưa tin điều ta đưa ra, ta cần phải chứng minh để họ tin vào điều ấy. Khi họ hiểu, họ mới tin và càng tin, họ sẽ lại càng hiểu vấn đề ta trình bày một cách sâu sắc hơn.

Vì thế có thể thấy giải thích và chứng minh thường đi song hành với nhau trong quá trình lập luận.

3. Muốn làm bài văn lập luận chứng minh, phải thực hiện bốn bước :

a) Tìm hiểu đề và tìm ý ;

b) Lập dàn bài ;

c) Viết bài ;

d) Đọc lại và sửa chữa.

4. Dàn bài bài văn lập luận chứng minh :

– Mở bài: Nêu luận điểm cần được chứng minh.

– Thân bài : Nêu lí lẽ và dẫn chứng để chứng tỏ luận điểm là đúng đắn.

– Kết bài : Nêu ý nghĩa luận điểm đã đửợc chứng minh. Chú ý lời văn phần Kết bài nên hô ứng với lời văn phần Mở bài.

5. Giữa các phần và các đoạn văn cần có phương tiện liên kết.

II – LUYỆN TẬP

Đề bài : Ca dao thực sự là tiếng hát về lao động và tiếng hát tâm tình của người dân lao động. Em hãy chứng minh điều đó.

Đề yêu cầu chứng minh nhận định về một nội dung của ca dao. Nhận định đề cập hai ý lớn :

– Ca dao là tiếng hát của người lao động về lao động.

– Ca dao là tiếng hát tâm tình của người lao động.

a) Mở bài : Nêu luận điểm cần chứng minh.

b) Thân bài :

– Chứng minh nội dung thứ nhất :

Ca dao là tiếng hát của người lao động về. lao động. Ca dao là tiếng hát của người lao động về công việc của mình : cày bừa, chăm bón, gặt hái ; những niềm vui, nỗi buồn trong công việc.

– Chứng minh nội dung thứ hai :

Ca dao là tiếng hát tâm tình của người lao động. Tiếng hát tâm tình, thể hiện tình yêu quê hương, đất nước, tình cảm bạn bè, tình cảm gia đình (với ông bà, bố mẹ, anh em, vợ chồng).

c) Kết bài : Ý nghĩa của vấn đề cần chứng minh.

3. Viết bài và sửa chữa

Bài làm tham khảo :

Ca dao thực sự là tiếng hát của người dân lao động. Tiếng hát trong ca dao Việt Nam phong phú vô cùng nhưng chủ yếu vẫn là tiếng hát lao động và tiếng hát tâm tình.

Qua ca dao, ta thấy được nỗi vất vả, nhọc nhằn của người lao động nông thôn :

Lao xao gà gáy rạng ngày

Vai vác cái cầy, tay dắt con trâu

Bước chân xuống cánh đồng sâu

Mắt nhắm mắt mở đuổi trâu ra cảỵ.

Ca dao vốn phát sinh từ công việc lao động, rồi lại phục vụ lao động, nên nó thực sự là tiếng hát của nhân dân lao động. Phải là người lao động thực sự mới có thể hiểu hết được nỗi vất vả của công việc đồng áng :

Cày đồng đang buổi ban trưa

Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày.

Và từ nỗi vất vả, nhọc nhằn ấy, người dân lao động đã hiểu rõ mồ hôi công sức mà họ đổ xuống để có được hạt lúa vàng. Cho nên họ đã nhắc nhở :

Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần.

Câu ca dao giúp ta thêm kính trọng mồ hôi nước mắt của người làm ra hạt lúa, đồng thời lên tiếng phán xét nghiêm khắc đối với bản chất ăn bám, coi khinh lao động của bọn người “ngồi mát ăn bát vàng”.

Qua đó ta thấy rằng tiếng hát ca dao không bao giờ là của hạng người “ăn trên ngồi trốc”.

Nhân dân lao động xưa sống rất vất vả, đầu tắt mặt tối, một nắng hai sương, quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho giời”, nhưng tâm hồn họ rất trong sáng và rộng mở, họ luôn lạc quan và tin tưởng vào cuộc sống chân chính của mình. Người lao động phải đổ “mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày” nên họ tin rằng:

Mồ hôi mà đổ xuống đồng

Lúa mọc trùng trùng sáng cả đồi nương.

hay :

Công lênh chẳng quản bao lâu

Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng.

Chính vì lạc quan tin tưởng trong lao động nên người dân lao động luôn hăng say với công việc của mình :

Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi ?

Còn gì đẹp hơn bức tranh cô thiếu nữ tát nước dưới đêm trăng ? Tâm hồn trong sáng của cô hoà với ánh trăng, trăng tan vào nước như những giọt mồ hôi của cô thấm mát từng gốc lúa, củ khoai… Phải tinh tế vô cùng, người nghệ sĩ quần chúng mới thấy được vẻ đẹp hào phóng của công việc lao động cũng như tâm hồn người lao động.

Dù lao động vất vả, nhọc nhằn nhưng tâm hồn, tình cảm của người lao động rất phong phú, trong sáng, sâu sắc và chân tình. Tình cảm ấy được thể hiện rõ trong ca dao trữ tình.

Trước hết ta hãy nói đến tình yêu quê hương, đất nước của nhân dân ta. Đây là một tình cảm thiêng liêng, mặn mà, sâu sắc của người lao động đốì với đất nước.

Quê hương, đất nước Việt Nam gắn liền với con người Việt Nam. Chẳng biết từ bao giờ, thiên nhiên và cuộc sống con người đã hoà làm một:

GiГі Д‘Ж°a cГ nh trГєc la Д‘Г

Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương

Mịt mù khói toả ngàn sương

Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ.

Không gian trời đất lắng trải giữa một buổi sáng êm đềm. Nhũng cành trúc la đà trước gió, một tiếng chuông hay một tiếng gà những tưởng như chìm sâu vào cảnh tĩnh mịch đó. Thế nhưng, trong “mịt mù khói tỏa ngàn sương” ấy, cuộc sống thực sự bắt đầu, sôi động và lan tỏa như mặt nước Hồ Tây.

Trên đường về quê Bác, câu hò xưa lại vẳng vào tâm trí chúng ta :

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

Non xanh nước biếc như tranh hoạ đồ.

Thể hiện tình yêu quê hương trong cảnh trí, ca dao Việt Nam còn ca ngợi những con người xây dựng và làm chủ quê hương ây. Tình cảm đồng bào trong ca dao Việt Nam rộng lớn vô cùng :

Nhiễu điều phủ lấy giá gương

Người trong một nước thì thương nhau cùng.

Bầu ơi thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

Tình cảm của người dân Việt Nam mộc mạc như giàn bí, giàn bầu, nhưng lại thiêng liêng cao cả như “nhiễu điều phủ lấy giá gương”. Tình cảm “nhớ” trơng ca dao Việt Nam gắn chặt với những gì rất cụ thể. Đây là tiếng lòng thổn thức của trái tim ai đó khi phải đi xa tổ ấm :

Anh Д‘i anh nhб»› quГЄ nhГ

Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.

Nhớ ai dãi nắng dầm sương

Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

Tình bè bạn của người lao động Việt Nam chỉ có thể sánh với vầng trăng tròn dịu hiền, với bầu trời cao mênh mông xanh thẫm :

Bạn về có nhớ ta chăng

Ta về nhớ bạn, như trăng nhớ trời.

Đứng trước tình cảm làm cha làm mẹ, những thi sĩ quần chúng đã gửi vào gan ruột chúng ta những vần điệu tha thiết :

Nuôi con cho được vuông tròn

Mẹ thầy dầu dãi xương mòn, gối cong

Con ơi cho trọn hiếu trung

Thảo ngay một dạ kẻo uổng công mẹ thầy.

Thật vô cùng cảm động trước sự mong ước đơn sơ, nhưng chính đáng và sâu sắc của những trái tim làm mẹ, làm cha.

Cuộc sống có thể hết sức vất vả, nhưng tình vợ chồng của người lao động vẫn keo sơn :

Râu tôm nấu với ruột bầu

Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.

Tình yêu chân chính là cội nguồn của sự thuỷ chung không gì lay chuyển được :

Chồng ta áo rách ta thương

Chồng người áo gấm xông hương mặc người.

Tình cảm nam nữ trong tiếng hát của người lao động cũng là một tình cảm lành mạnh, trong sáng và dạt dào :

Đôi ta như lửa mới nhen

Như trăng mới mọc, như đèn mới khêu.

“Lửa mới nhen” nhất định sẽ bùng lên ngọn lửa, “trăng mới mọc” sẽ còn lên cao, sáng tỏ, “đèn mới khêu” thì nguồn sáng mới bắt đầu. Tất cả những tình cảm lành mạnh ấy đều được “nhắn nhe” từ buổi gặp gỡ ban đầu :

Đường xa thì thật là xa

Mượn mình làm mối cho ta một người

Một người mười chín đôi mươi

Một người vừa đẹp vừa tươi như mình.

Nói chung tình cảm của người dân Việt Nam vốn phát sinh từ lao động nên rất tế nhị và chân tình.Cuộc sống của nhân dân Việt Nam gắn chặt với lao lao động sản xuất. Từ lao động, ca dao ra đời và phục vụ lại lao động. Do đó nó chính là tiếng hát thực sự của người lao động. Tâm hồn của người lao động Việt Nam trước nỗi vất vả, nhọc nhằn của cuộc sống là một tâm hồn trong sáng, rộng mở, tràn đầy niềm tin tưởng lạc quan. Ca dao ca ngợi lao động chính là ca ngợi con người lao động có tình cảm sâu sắc, tế nhị, phong phú và chân tình. Tha thiết yêu ca dao là tha thiết yêu con người lao động.

(Trần Thanh Thảo, Hà Nội)

Bài soạn “Cách làm văn lập luận chứng minh” số 3

Bài soạn “Cách làm văn lập luận chứng minh” số 6

I. Các bước làm bài văn lập luận chứng minh:

Cho đề văn: Nhân dân ta thường nói “Có chí thì nên”. Hãy chứng minh tính đúng đắn đó.

1. Tìm hiểu đề và tìm ý:

2. Lập dàn bài:

3. Viết bài:

4. Đọc và sửa chữa.

II. LUYỆN TẬP:

a. Xác định yêu cầu chung: đề nêu ra một tư tưởng thể hiện bằng một câu tục ngữ và yêu cầu chứng minh tư tưởng đúng đắn đó.

b. Câu tục ngữ khẳng định điều gì?

Câu tục ngữ khẳng định, muốn có thành công, một làm được việc lớn thì ta phải chăm chỉ, làm từng chút một, không vội vàng . Chỉ có như vậy mới dẫn đến thành công.

c. Lập luận:

– Xét về lí lẽ: làm việc gì cũng cần phải kiên trì, chịu khó mới thành công được.

– Xét về thực tế: có rất nhiều tấm gương nhờ chăm chỉ, không chịu từ bỏ mà thành công.

– Mở bài: nêu vai trò quan trọng của ý chí và nghị lực trong cuộc sống.

– Thân bài: chứng minh cụ thể

+, Xét về lí lẽ

+, Xét về thực tế: Cao Bá Quát từng là người gieo vạ cho dân vì viết đơn gửi quan mà chữ không đọc nổi. Kiên trì rèn luyện, từ chỗ không ai đọc được chữ ông viết, ông đã trở thành người nối tiếp đời đời về tấm gương khổ luyện thành tài; những bạn thi “Đường lên đỉnh Olympia”…

– Kết bài: Bài học rút ra.

– Mở bài cần lập luận

– Dùng các từ liên kết

– Nêu lí lẽ rồi phân tích

– Sắp xếp theo trình tự hợp lí.

Đề 2: Chứng minh tính chân lí:

“Không có việc gì khó

Quyết chí ắt làm nên”.

(Hồ Chí Minh).

Các bước làm tường tự đề 1.

*Hai đề này có giống và khác so với đề văn mẫu là:

Giống: cả hai bài đều có ý khuyên răn con người phải bền lòng, vững lòng, không đươc nản chí khi gặp khó khăn và thử thách.

Khác nhau:

– “Có công mài sắt, có ngày nên kim”: thiên nói về sự cần mẫn, chăm chỉ, kiên trì của con người trong công việc.

– “Có chí thì nên”: thiên nói về sự quyết tâm, ý chí của con người.

Bài soạn “Cách làm văn lập luận chứng minh” số 2

Bài soạn “Cách làm văn lập luận chứng minh” số 3

Phần I: CÁC BƯỚC LÀM BÀI VĂN LẬP LUẬN CHỨNG MINH

Theo đề văn: Nhân dân ta thường nói “Có chí thì nên”. Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ đó.

Chứng minh tư tưởng của câu tục ngữ là đúng đắn

– Chí là hoài bão, ý chí, nghị lực, sự kiên trì

– Ai có chí thì sẽ thành công.

Nếu gặp khó khăn mà không có ý chí vượt lên thì không làm được gì?

– Phân chia thời gian hợp lí.

– Đọc và sửa lỗi chính tả.

Phần II: LUYỆN TẬP

Em sẽ làm theo các bước như thế nào? Hai đề bày có gì giống và khác so với đề văn đã làm mẫu ở trên?

Cả hai đề văn đều rất giống chân lí ở hài văn mẫu. Đó là “Có chí thì nên”. Tuy nhiên cách thức diễn đạt khác nhau.

Đề 1: Lấy một hành động của ý chí làm nguyên nhân “có công mùi sắt” là “có chí” . Và một kết quả cụ thể “có ngày nên kim” tức là “thì nên”.

Đề 2: Hai dòng đầu nói rõ hơn câu tục ngữ.

Hai dòng sau dùng bằng chứng để thấy khả năng kì diệu của “chí”.

Bài soạn “Cách làm văn lập luận chứng minh” số 2

Bài soạn “Cách làm văn lập luận chứng minh” số 4

Bài soạn “Cách làm văn lập luận chứng minh” số 2

I. Kiến thức cơ bản

Đề yêu cầu điều gì?

+ Thao tác này nhằm xác định yêu cầu chung của đề.

Chúng ta phải chứng minh điều gì?

+ Thao tác này nhằm xác định cụ thể vấn đề cần chứng minh. Điều cần chứng minh có thể được đưa ra dưới dạng luận điểm cho sẵn hoặc dưới dạng một câu văn, câu thơ, câu nói, hình ảnh… Đối với những đề mà vấn đề cần chứng minh được đưa ra một cách gián tiếp, ta phải xác định được một cách cụ thể, chính xác vấn đề qua hình ảnh, cách biểu đạt, chẳng hạn: Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ Có công mài sắt, có ngày nên kim. Với đề kiểu này, một mặt phải cắt nghĩa được nghĩa đen của hình ảnh mài sắt à nên kim, mặt khác, phải hiểu được ngụ ý của hình ảnh này: khuyên nhủ con người phải biết kiên trì, nhẫn nại, bền chí thì sẽ đạt được kết quả.

Luận điểm của bài văn sẽ là gì?

+ Thao tác này nhằm xác định luận điểm cụ thể cho bài văn (luận điểm có thể dùng được để đặt nhan đề cho bài văn).

Lập luận chứng minh theo cách nào?

+ Tùy theo từng luận điểm cụ thể mà lựa chọn cách lập luận theo các hướng:

+ Dùng lí lẽ và phân tích lí lẽ;

+ Dùng lí lẽ và dẫn chứng;

+ Kết hợp cả hai.

Lập dàn bài theo bố cục ba phần, xác định nội dung của từng phần, mối quan hệ giữa các phần, trình tự triển khai các luận cứ trong từng phần, cách đưa dẫn chứng cho mỗi luận điểm, lí lẽ,…

a. Mở bài:

Nêu ý nghĩa vấn đề cần chứng minh, khái quát ý kiến của mình về vấn đề đó.

b. Thân bài:

+ Triển khai luận điểm chính bằng các luận điểm nhỏ nào?

+ Dùng những lí lẽ nào để chứng minh?

+ Lựa chọn các dẫn chứng để thuyết phục cho lí lẽ.

+ Cân nhắc việc sắp xếp các luận cứ (lý lẽ và dẫn chứng) sao cho có sức thuyết phục nhất.

c. Kết bài:

Khẳng định tính đúng đắn của điều đã chứng minh. Mở rộng ý nghĩa của vấn đề.

Dựa vào dàn ý đã xây dựng, viết từ Mở bài, từng đoạn của Thân bài và Kết bài.

* Cách viết Mở bài: Có các cách sau:

Đi thẳng vào vấn đề cần chứng minh:

+ Chẳng hạn, với đề văn Nhân dân ta thường nói: “Có chí thì nên”. Hãy chứng minh tính đúng đắn của câu tục ngữ đó. Có thể viết Mở bài như sau:

+ Có ý chí, nghị lực thì sẽ thực hiện được hoài bão của mình, mới có thể trở thành người thành đạt. Đúng như nhân dân ta đã đúc kết: “Có chí thì nên”.

Đi từ cái chung, dẫn dắt đến cái cần chứng minh:

+ Cũng với đề văn trên, theo cách này có thể viết:

+ Cuộc sống bao giờ cũng đầy những khó khăn, thách thức. Người ta sống tức là biết khắc phục khó khăn, vượt qua những thách thức để vươn tới thành công. Thiếu đi ý chí, nghị lực sẽ không bao giờ đến được bến bờ của thành công, đúng như dân gian vẫn thường nói: Có chí thì nên.

+ Từ thực tiễn để dẫn vào vấn đề cần chứng minh

+ Với đề văn trên, theo cách này có thể viết:

+ Ai mà chẳng muốn thành đạt. Song không phải ai cũng có được ý chí, nghị lực để có thể thành đạt. Nhân dân ta đã dạy rất đúng về điều này: Có chí thì nên.

* Cách viết Thân bài:

+ Chú ý viết tuần tự từng đoạn, lựa chọn các từ ngữ, câu kết nối, chuyển tiếp giữa các phần, các đoạn. Đối với văn lập luận chứng minh, ta thường gặp các từ ngữ chuyển tiếp như: Thật vậy,…; Quả đúng như vậy,…; Có thể thấy rõ…; Điều đó được chứng tỏ…

+ Khi phân tích lí lẽ, cần chú ý tính logic, chặt chẽ;

+ Khi đưa dẫn chứng cần tập trung phân tích những biểu hiện tiêu biểu, gắn với luận điểm, lí lẽ của mình, không nên kể lể dài dòng.

* Kết bài:

+ Người ta thường sử dụng những từ ngữ để chuyển ý khi kết bài như: Tóm lại,…; Như vậy,…

+ Đến đây, có thể khẳng định…

+ Chú ý sự hô ứng giữa Mở bài và Kết bài: Mở bài theo cách nào thì Kết bài cũng phải theo cách ấy.

+ Kiểm tra lại cách diễn đạt, cách dùng các từ ngữ lập luận, các từ ngữ chuyển tiếp,…

+ Soát các lỗi về chính tả, dùng từ, viết câu,…

II. Rèn luyện kĩ năng

Đề 2: Hãy chứng minh tính chân lí trong bài thơ:

Không có việc gì khóChỉ sợ lòng không bềnĐào núi và lấp biểnQuyết chí ắt làm nên.

Em sẽ làm các bước như thế nào? Hai đề này có gì giống và khác so với đề văn đã làm mẫu ở trên?

Điểm giống nhau: Cả hai câu tục ngữ và bài thơ đều có ý khuyên răn con người phải bền lòng, không được nản chí trước khó khăn của công việc và hoàn cảnh.

Điểm khác nhau:

Bài mẫu: Có chí thì nên thiên về khẳng định quyết tâm của con người.

Hai đề trên:

+ Đề 1: Có công mài sắt có ngày nên kim thiên về nói đến sự cần mẫn, kiên trì trong công việc.

+ Đề 2: Ý thứ nhất: Nếu không bền lòng thì sẽ không làm được việc g

Ý thứ hai: Khẳng định sức mạnh lớn lao của ý chí và quyết tâm

Đăng bởi: Chương Tôn Văn

Từ khoá: 6 Bài soạn “Cách làm văn lập luận chứng minh” lớp 7 hay nhất

6 Bài Soạn Tam Đại Con Gà (Ngữ Văn 10) Hay Nhất

Bài soạn tham khảo số 5

Câu 1 (trang 79 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

– Tình huống 1: Gặp chữ “ kê” khi học trò hỏi gấp thầy không biết chữ đấy là chữ gì liền đoán bừa một phen “ dủ dỉ là con dù dì”. Sau đó còn dặn học trò khẽ khẽ kẻo người khác nghe thấy biết cái sai của mình. Không chỉ vậy thầy đồ lại còn bầy trò cúng thổ công xem đúng hay sai, xem cho chắc chắn, rồi lại cho mình là đúng còn bắt học trò đọc to .

+ Tình huống 2: Khi bố của học trò hỏi thì vẫn cái việc che giấu dốt của mình, thầy đồ vẫn biện đủ lí do, lí sự chống chế, giải thích theo cái lí sự cùn của mình. Thầy còn nghĩ “ Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt nữa.

Câu 2 (trang 79 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

– Truyện phê phán thói dấu dốt – một tật xấu có thật trong xã hội. Ý nghĩa phê phán đó toát lên từ hành động tức cười của một anh thầy đồ đã dốt mà lại còn giấu dốt, đã thế lại đi dạy trẻ, khiến thói xấu này có khả năng gây hậu quả khôn lường.

– Qua đây, câu chuyện ngầm khuyên răn mọi người – nhất là những người đi học, chớ nên giấu dốt, phải luôn học hỏi nếu không biết.

Luyện tập

Câu hỏi (trang 79 SGK Ngữ văn 10 tập 1)

– Hành động:

+ Bảo học trò đọc khẽ.

+ Khấn xin âm dương thổ công.

+ Bệ vệ ngồi trên giường bảo trẻ đọc thật to.

– Lời nói:

+ Dủ dỉ là con dù dì.

+ Dạy cho cháu biết đến tận tam đại con gà.

+ Dủ dỉ là chị con công, con công là ông con gà…

Tóm tắt

Xưa có anh học trò học hành dốt nát nhưng lại hay khoe chữ. Có người tưởng anh ta hay chữ thật, mới đón về dạy trẻ. Một hôm, dạy đến chữ “kê”, học trò hỏi mà không biết, đánh nói liều: “Dủ dỉ là con dù dì”. Thầy sợ nhỡ sai, người nào biết thì xấu hổ, dặn học trò đọc khẽ và đến bàn thờ thổ công xin ba đài âm dương. Xin ba đài được cả ba, thầy lấy làm đắc chí, hôm sau bảo trẻ đọc to lên. Người bố nghe được, phát hiện ra, thầy liền chống chế bằng cách lí sự cùn: dạy thế là để biết đến tam đại con gà.

Bố cục

Bố cục (3 phần)

– Phần 1 (từ đầu đến “mời đón về dạy trẻ”): Giới thiệu mâu thuẫn trái tự nhiên

– Phần 2 (còn lại): Các tình huống mâu thuẫn gây cười

Nội dung chính

Từ tình huống mẫu thuẫn trái tự nhiên, truyện bật lên tiếng cười phê phán thói dấu dốt – một thói xấu trong nội bộ nhân dân. Qua đó, khuyên mọi người không nên dấu dốt mà phải không ngừng học hỏi

Bài soạn tham khảo số 4

Bài soạn tham khảo số 5

Câu 1 (trang 79 sgk Ngữ văn 10 Tập 1): Mâu thuẫn ở đây là thầy dốt nhưng không chịu nhận cứ cố tình giấu cái dốt đi

– Lần thứ 1: Thầy không biết chữ kê, bị học trò hỏi gấp thầy nói liều dủ dỉ là con dù dì

⇒ sự liều lĩnh và dốt nát được bộc lộ

– Lần thứ 2: Người ta cười về sự giấu dốt và sĩ diện hão của ông thầy thầy xấu hổ bảo trò đọc khe khẽ

⇒ dùng sự láu cá để lấp liếm che giấu dốt

– Lần thứ 3: Điểm buồn cười khi anh chàng tìm tới thổ công, thổ công ngửa cả ba đài âm dương, thầy đắc ý bệ vệ kêu trẻ đọc to

⇒ mê tín, phô trương cái dốt

– Lần thứ 4: Cái dốt bị lật tẩy, thầy lòi ra cái đuôi dốt nhưng vẫn gượng gạo giấu dốt

⇒ tự lật tẩy cái dốt của mình

Câu 2 (trang 78 sgk Ngữ văn 10 Tập 1): Ý nghĩa phê phán của truyện

– Truyện phê phán một tật xấu có thật trong xã hội: thói giấu dốt.

– Phê phán thói mê tín dị đoan

LUYỆN TẬP

⇒ Các lời nói càng về sau càng chứa đựng nhiều sự phi lý, ngô nghê, vô nghĩa, thế nhưng nhân vật đem ra để ngụy biện, chống chế, che giấu cái dốt của mình.

Bài soạn tham khảo số 4

Bài soạn tham khảo số 1

Bài soạn tham khảo số 4

Câu 1 (trang 79 sgk Ngữ văn 10 tập 1)

Câu chuyện buồn cười ở việc anh học trò ít chữ nhưng lại khoe khoang và đi dạy chữ.

Mâu thuẫn truyện ngày càng được đẩy tới đỉnh điểm khi thầy liên tiếp được đặt vào những tình huống:

+ Lần thứ 1: Thầy không biết chữ kê, bị học trò hỏi gấp thầy nói liều “dủ dỉ là con dù dì”- sự liều lĩnh và dốt nát được bộc lộ.

+ Lần thứ 2: Người ta cười về sự giấu dốt và sĩ diện hão của ông thầy “thầy xấu hổ bảo trò đọc khe khẽ”, anh ta dùng sự láu cá để lấp liếm che giấu dốt

+ Lần thứ 3: Điểm buồn cười khi anh chàng tìm tới thổ công, thổ công ngửa cả ba đài âm dương, thầy đắc ý bệ vệ kêu trẻ đọc to. Cái dốt lúc này được phô trương

+ Lần thứ 4: Cái dốt bị lật tẩy, Thầy lòi ra cái đuôi dốt nhưng vẫn gượng gạo giấu dốt, cái dốt tầng tầng lớp lớp chồng chất lên nhau

– Trong mỗi lần giải quyết tình huống, cái dốt của thầy đồ dần được bộc lộ chân tướng. Thầy càng che giấu cái dốt càng chồng chất.

– Mâu thuẫn là thầy dốt nhưng không chịu nhận dốt, liên tục ngụy biện, giấu dốt

Câu 2 (trang 79 sgk Ngữ văn 10 tập 1)

Ý nghĩa phê phán của truyện:

– Phê phán bộ phận người dốt nát nhưng thích tỏ ra hay chữ

– Phê phán thói mê tín dị đoan trong dân gian

– Tuy nhiên câu chuyện này vẫn là câu chuyện giải trí, chưa tới mức đả kích và tiêu diệt đối tượng.

Bài 1 (trang 79 sgk Ngữ văn 10 tập 1)

Hành động của nhân vật:

– Thầy không biết chữ kê nên yêu cầu học trò đọc nhỏ: muốn che giấu cái dốt

– Sau khi xin đài âm dương, thầy bệ vệ bảo trẻ đọc to: đắc chí tin vào cái dốt

– Thầy cãi cố, bào chữa cho cái dốt trước mặt nhà chủ: tiếng cười được đẩy lên đỉnh điểm, hành động này của thầy bộc lộ rõ nhất bản chất nhân vật, khiến tiếng cười bật ra thoải mái nhất.

Lời nói của nhân vật:

+ Dủ dỉ là con dù dì

+ DбєЎy chГЎu biбєїt tб»›i tam Д‘бєЎi con gГ

+ Dủ dỉ lГ  con dГ№ dГ¬, dГ№ dГ¬ lГ  chб»‹ con cГґng, con cГґng lГ  Гґng con gГ

Các lời nói về sau chứa đựng sự phi lý, ngu dốt mà nhân vật mang ra để chống chế, che dấu cái dốt của bản thân.

Hành động và lời nói của nhân vật là thủ pháp gây cười trong truyện.

Bài soạn tham khảo số 3

Bài soạn tham khảo số 1

Câu 1 (trang 79 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Mâu thuẫn trái tự nhiên ở nhân vật “thầy” (anh học trò dốt làm thầy dạy trẻ)

– “Thầy” liên tiếp bị đặt vào các tình huống khó xử:

+ Là anh học trò học hành dốt nát mà lại làm thầy đồ đi dạy học trò, dạy chữ nhưng lại “thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì”. Học trò hỏi gấp, thầy đáp liều

+ Chủ nhà phát hiện thầy dạy sai thì ra sức bao biện, giấu dốt

– Cách giải quyết của “thầy”

+ Tình huống thứ nhất: “thầy” chọn cách “nói liều”, sợ sai bảo học trò đọc nhỏ rồi sau đó thay vì hỏi người giỏi “thầy” lại khấn thổ công

Câu 2 (trang 79 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1): Ý nghĩa phê phán của truyện:

Câu chuyện không chỉ phê phán anh học trò dốt mà phê phán tật xấu giấu dốt, không chịu học hỏi của một bộ phận nhân dân. Câu chuyện còn khuyên mọi người đặc biệt là những người đi học: chớ nên giấu dốt, hãy thừa nhận cái sai của mình và mạnh dạn học hỏi từ người khác.

Truyện chỉ dừng lại ở mức phê phán nên tạo ra tiếng cười mang tính chất sảng khoái, không có tính đả kích gay gắt.

Thủ pháp gây cười thông qua câu chuyện là thủ pháp tăng tiến trong miêu tả và lời nói nhân vật.

– Các hành động của thầy đồ:

+ Tỏ ra thận trong khi bảo học trò khe khe, rồi xin đài âm dương.

+ Tỏ ra đắc trí khi ngồi bệ vệ trên đường rồi bảo học trò đọc to.

Bài soạn tham khảo số 2

Bài soạn tham khảo số 3

Câu 1 (trang 79 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

– Trong truyện “Tam đại con gà”, “ông thầy” liên tiếp bị đưa vào hai tình huống;

+ Thầy đồ đi dạy học trò nhưng “thấy mặt chữ nhiều nét rắc rối, không biết chữ gì, học trò lại hỏi gấp, thầy cuống, nói liều…”

+ Khi bị người nhà phát hiện dạy sai, thầy ra sức bao biện để chối tội và giấu dốt.

– Tình huống 1: “ông thầy” giải quyết bằng cách nói liều và còn viện đến thổ công để “chứng giám” một cách hú họa cho sự dốt nát của mình.

Câu 2 (trang 79 sgk Ngữ Văn 10 Tập 1):

Truyện “Tam đại con gà” phê phán một loại người, một thói tật xấu trong xã hội: muốn giấu dốt và cố tình che giấu cái dốt một cách liều lĩnh.

+ Bảo học trò đọc khe khẽ (thận trọng).

+ Xin đài âm dương (thận trọng).

+ Ngồi bệ vệ trên giường bảo học trò đọc to (đắc chí).

– Các lời nói của thầy chứa đựng sự phi lí:

+ Dủ dỉ là con dù dì, dù dì là chị con công, con công là ông con gà.

+ Dạy học trò biết đến tận tam đại con gà.

Bài soạn tham khảo số 2

Bài soạn tham khảo số 6

Bài soạn tham khảo số 2

Đọc – hiểu văn bản

1- Trang 79 SGK

Tìm hiểu mâu thuẫn trái tự nhiên ở nhân vật “thầy” (anh học trò dốt làm thầy dạy trẻ) qua việc phân tích ba khía cạnh sau:

– “Thầy” liên tiếp bị đặt vào tình huống nào ?

– “Thầy” đã giải quyết tình huống đó ra sao ?

– Trong quá trình giải quyết các tình huống, “thầy” đã tự bộc lộ cái dốt của mình như thế nào ?

Trả lời:

Mâu thuẫn trái tự nhiên ở nhân vật “thầy” qua việc phân tích ba khía cạnh:

– Tình huống 1: Sự mâu thuẫn giữa cái dốt và sự khoe khoang

Gặp chữ “kê” khi học trò hỏi gấp thầy không biết chữ đấy là chữ gì liền đoán bừa một phen “dủ dỉ là con dù dì”. Sau đó còn dặn học trò khẽ khẽ kẻo người khác nghe thấy biết cái sai của mình. Không chỉ vậy thầy đồ lại còn bầy trò cúng thổ công xem đúng hay sai, xem cho chắc chắn, rồi lại cho mình là đúng còn bắt học trò đọc to.

⟹ Qua đó không chỉ nói lên cái dốt nát của một thầy đồ “lởm” mà còn nói lên việc thầy đồ đã dốt lại còn mê tín. Nhân dân còn chê cười cái dốt của thổ công. Cách xử lí ở đây là nhờ đến thổ địa, nhưng là dốt nên mê tín để giúp che giấu sự dốt của mình.

– Tình huống 2: Đã dốt nhưng lại giấu dốt, đáng cười là càng giấu lại càng lộ cái dốt ấy ra

Khi bố của học trò hỏi thì vẫn cố che giấu cái dốt của mình, thầy đồ vẫn biện đủ lí do, lí sự chống chế, giải thích theo cái lí sự cùn của mình. Thầy còn nghĩ “Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt nữa”.

⟹ Cách xử lý của thầy đồ luôn giải thích vòng vo, thiếu logic, tự lật tẩy bản chất dốt của chính mình.

2- Trang 79 SGK

Hãy chỉ ra ý nghĩa phê phán của truyện (Có phải chỉ phê phán một đối tượng cụ thể là anh học trò dốt không ?)

Truyện Tam đại con gà không chỉ phê phán anh học trò dốt, mà qua đó còn muốn phê phán những kẻ có tật xấu, giấu dốt mà lại văn chương hay chữ, răn dạy những người đi học chớ nên giấu dốt của mình, cứ mạnh dạn không biết vấn đề gì thì mạnh dạn hỏi. Cụ thể:

– Qua hình ảnh thầy đồ trong truyện Tam đại con gà, truyện phê phán một tật xấu trong nội bộ nhân dân, phê phán những người dốt mà không chịu học hỏi, dốt mà cứ cố tình che đậy sự dốt nát của mình. Tuy nhiên cái cười trong truyện ngắn này chủ yếu vẫn mang tính chất giải trí – cười sự ngây ngô và liều lĩnh của thầy đồ, chứ chưa tới mức cười nhằm đả kích và triệt tiêu đối tượng.

Câu hỏi: Phân tích hành động và lời nói của nhân vật “thầy” để làm sáng tỏ thủ pháp gây cười trong truyện.

⟹ Hai hành động đầu tiên là biểu hiện cho sự thận trọng muốn che giấu cái dốt của mình. Hành động thứ ba, ngược lại là biểu hiện của sự đắc chí, sự yên tâm tuyệt đối vào mình và vào thổ công. Và chính vì vậy hành động thứ ba là hành động có khả năng bộc lộ rõ nhất bản chất nhân vật và khiến tiếng cười bật ra một cách thoải mái nhất.

⟹ Các lời nói càng về sau càng chứa đựng nhiều sự phi lý, ngô nghê, vô nghĩa, thế nhưng nhân vật đem ra làm vũ khí để ngụy biện, chống chế, che giấu cái dốt của mình. Vì thế sự dốt nát lộ càng rõ, càng đầy đủ.

⟹ Như vậy hành động và lời nói của nhân vật càng về sau càng đáng cười. Thủ pháp tăng tiến trong miêu tả hành động và lời nói của nhân vật là thủ pháp gây cười trong truyện.

Bài soạn tham khảo số 6

chúng mình đã sưu tầm và tổng hợp được những bài soạn Tam đại con gà dành cho các bạn học sinh lớp 10 cùng tham khảo. Hy vọng sau bài viết này, việc soạn bài sẽ không còn khó nhằn với các bạn học sinh nữa.

Đăng bởi: Ánh Nguyễn

Từ khoá: 6 Bài soạn Tam đại con gà (Ngữ Văn 10) hay nhất

6 Bài Soạn “Vội Vàng” Của Xuân Diệu Lớp 11 Hay Nhất

“Vội vàng” là bài thơ rút ra từ tập “Thơ thơ”, là thi phẩm kết tinh vẻ đẹp thơ Xuân Diệu trước cách mạng. Bài thơ là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy biết quý trọng từng phút, từng giây của cuộc đời mình nhất là những năm tháng tuổi trẻ của một hồn thơ yêu đời ham sống đến cuồng nhiệt. Mời các bạn tham khảo một số bài soạn “Vội vàng” hay nhất mà chúng mình đã tổng hợp trong bài viết sau để thấy rõ hơn vẻ đẹp ấy.

Bài soạn “Vội vàng” của Xuân Diệu số 1

Câu 1 (trang 23 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Bài thơ chia thành 3 phần:

– Đoạn 1 ( 13 câu thơ đầu): bộc lộ tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết

– Đoạn 2 ( câu 14 tới câu 29): thể hiện sự nuối tiếc về kiếp người và thời gian

– Đoạn 3 (còn lại): giục giã cuống quýt, vội vàng để tận hưởng tuổi trẻ và cuộc đời.

Câu 2 (trang 23 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Tác giả cảm nhận thời gian tự nhiên, thời gian khách quan muôn đời vẫn như thế. Nhưng quan niệm về thời gian, cảm nhận về thời gian thì mỗi thời đại, mỗi con người lại khác nhau

Cảm nhận thời gian thông qua lăng kính của Xuân Diệu chưa nhiều triết lý nhân sinh sâu sắc.

– Thời gian của thi nhân gắn liền với mùa xuân và tuổi trẻ của một người yêu cuộc sống tha thiết, đắm say, nên mang nét riêng biệt của Xuân Diệu

Thời gian và mùa xuân

– Người xưa quan niệm thời gian: tuần hoàn vĩnh cửu, con người gắn chặt với cộng đồng nên chết vẫn chưa là hết hẳn, vẫn cùng tồn tại với trời đất.

– Xuân Diệu có quan điểm ngược lại, thời gian tuyến tính, một đi không trở lại.

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

XuГўn cГІn non nghД©a lГ  xuГўn sбєЅ giГ

– Nhà thơ lo sợ khi vũ trụ còn mãi, thời gian vô tận mà đời người lại hữu hạn, tuổi trẻ “chẳng hai lần thắm lại”

– Thời gian trong cảm nhận của nhà thơ đầy nuối tiếc, mất mát, chia lìa

→ Cách cảm nhận thời gian là sự thức tỉnh sâu sắc “cái tôi” cá nhân, sự tồn tại có ý nghĩa mỗi cá nhân trên đời nên nâng niu, trân trọng, từng giây phút của cuộc đời.

Câu 3 (Trang 23 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc qua lăng kính độc đáo của tác giả

– Thiên nhiên sự sống gợi lên gần giũi, tình tứ. Nhà thơ phát hiện vẻ đẹp kì diệu của tự nhiên, và thổi vào đó tình yêu rạo rực, say đắm.

+ Này đây tuần tháng mật

+ Đồng nội xanh rì

+ Cành tơ phơ phất

+ Khúc tình si…

– Thiên nhiên nhuốm màu chia li, mất mát “ mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi” → hình ảnh thiên nhiên và cuộc sống qua lăng kính thời gian trôi nhanh chóng, không bao giờ trở lại

– Tác giả nhìn thiên nhiên qua lăng kính tuổi trẻ, tình yêu, cảnh vật nhuốm màu tình tứ, tràn ngập xuân tình

– Lấy con người làm thước đo cho vẻ đẹp của thiên nhiên: đây là cách nhìn mới mẻ, đậm chất Xuân Diệu

– Qua đó nhà thơ thể hiện quan niệm mới về cuộc sống, tuổi trẻ, hạnh phúc .

+ Đối với Xuân Diệu thế giới đẹp nhất khi con người ở tuổi trẻ và tình yêu: hạnh phúc lớn nhất của con người là tình yêu, thời gian quý giá nhất của mỗi người là tuổi trẻ

→ Biết hưởng thụ những điều chính đáng cho cuộc sống dành cho mình, sống mãnh liệt, hết mình những năm tháng tuổi trẻ

Câu 4 (trang 23 sgk ngữ văn 11 tập 2):

Đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu của đoạn thơ:

+ Hình ảnh trong đoạn thơ thứ ba gần gũi, quen thuộc, tươi mới, giàu sức sống, đầy tính quyến rũ, tình tứ nhưng cũng mới mẻ, đột phá

+ Ngôn ngữ gần với ngôn từ đời thường, được nâng lên tầng nghệ thuật

+ Cảm xúc chân thành, dạt dào, mãnh liệt đã tạo nên những làn sóng ngôn từ đan vào nhau, vừa cộng hưởng với nhau theo chiều tăng tiến.

+ Sử dụng nhiều động từ mạnh, tăng tiến, chỉ sự đắm say mãnh liệt, nồng cháy, cộng với những danh từ chỉ vẻ đẹp của tuổi trẻ; nhiều tính từ chỉ xuân sắc

+ Nhịp điệu thơ sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt.

LUYỆN TẬP

Nhận định của Vũ Ngọc Phan chủ yếu nói về lòng yêu đời, yêu cuộc sống mãnh liệt trong thơ Xuân Diệu

– Đó là giọng điệu thấm thía. Lòng yêu đời đó xuất phát từ hai nguồn cảm hứng mới, đó là đề tài xuyên suốt trong thơ Cách mạng của Xuân Diệu

– Tác giả chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa tuổi trẻ với tình yêu, giữa thời gian với cuộc đời con người

– Dù ở tâm trạng nào, thơ Xuân Diệu cũng bộc lộ lòng yêu đời, yêu người trong thơ của mình

– Sự hối hả, sự khao khát sống, khao khát yêu đương đã thôi thúc nhà thơ

Bài soạn “Vội vàng” của Xuân Diệu số 2

Bài soạn “Vội vàng” của Xuân Diệu số 1

I. Vài nét về tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

– Xuân Diệu (1916 – 1985) quê ở huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.

– Ông là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới”. Xuân Diệu đã đem đến cho thơ ca đương đại một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tân nghệ thuật đầy sáng tạo. Ông là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắm thiết.

– Xuân Diệu là cây bút có sức sáng tạo mãnh liệt, dồi dào, bền bỉ, có đóng góp to lớn trên nhiều lĩnh vực đối với nền văn học Việt Nam hiện đại. Xuân Diệu xứng đáng với danh hiệu một nhà thơ lớn, một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hóa lớn. Ông được nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật (1996).

– Tác phẩm tiêu biểu: Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945), Riêng chung (1960)…Ngoài ra ông còn viết văn xuôi và tiểu luận phê bình, nghiên cứu văn học.

2. Tác phẩm

– Xuất xứ: in trong tập Thơ thơ.

– Là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám.

Đọc hiểu văn bản

Câu 1 (trang 23 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2): Bố cục

Bài thơ có thể chia thành ba đoạn:

– Đoạn 1 (13 câu đầu): Bộc lộ tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết.

– Đoạn 2 (từ câu 14 đến câu 29): Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian.

– Đoạn 3 (còn lại): Lời giục giã cuống quýt, vội vàng để tận hưởng những giây phút tuổi xuân của mình giữa mùa xuân của cuộc đời, vũ trụ.

Câu 2 (trang 23 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu là thời gian tuyến tính, một đi không bao giờ trở lại. Nếu các nhà thơ trung đại, quan niệm thời gian là tuần hoàn, là vĩnh cửu thì với Xuân Diệu mỗi phút giây trôi qua là mất đi vĩnh viễn:

XuГўn cГІn non sбєЅ lГ  xuГўn sбєЅ giГ

Xuân Diệu lấy tuổi trẻ của mỗi người làm thước đo của thời gian. Theo nhà thơ, thời gian vũ trụ tuần hoàn nhưng tuổi trẻ thì trôi qua rất nhanh, không bao giờ trở lại:

Mà xuân hết nghĩa là tôi cũng mất

Lòng tôi rộng nhưng lượng trời cứ chật

Không cho dài thời trẻ của nhân gian

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời.

Nhìn thấy sự trôi chảy nhanh chóng của thời gian, Xuân Diệu còn nhận thấy mỗi phút giây trôi qua là sự mất mát, chia lìa:

Con gió xinh thì thào trong lá biếc

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi

Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,

Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?

Nhà thơ có tâm trạng vội vàng, cuống quýt trước sự trôi chảy của thời gian do ý thức sâu sắc về “cái tôi” cá nhân, về sự tồn tại có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên đời, nâng niu, trân trọng từng giây, từng phút của cuộc đời, nhất là những năm tháng của tuổi trẻ.

→ Tư tưởng nhân văn sâu sắc.

Câu 3 (trang 23 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

Hình ảnh, thiên nhiên và sự sống trong bài thơ được Xuân Diệu gợi lên vừa gần gũi, thân quen, vừa quyến rũ, tình tứ. Nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó một tình yêu rạo rực, đắm say:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật

Này đây hoa của đồng nội xanh rì

Này đây lá của cành tờ phơ phất

Của yến anh này đây khúc tình si

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi

Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.

Thiên nhiên qua con mắt của Xuân Diệu đều nhuốm màu tình tứ, tràn ngập xuân tình. Thi sĩ đã lấy con người làm chuẩn mực cho cái đẹp, cho thiên nhiên, quy chiếu thiên nhiên về vẻ đẹp của người thiếu nữ: “ Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”; “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”; Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”.

→ Đây là một cách nhìn mới của Xuân Diệu, đồng thời cũng thể hiện quan niệm mới của nhà thơ về cuộc sống, về tuổi trẻ, về hạnh phúc: Thời gian quý giá nhất của mỗi đời người là tuổi trẻ, mà hanh phúc lớn nhất của tuổi trẻ chính là tình yêu.

Câu 4 (trang 23 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2):

* Đặc điểm hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu trong đoạn thơ cuối:

– Hình ảnh quen thuộc mà tươi mới, giàu sức sống, quyến rũ.

– Cảm xúc ào ạt, tràn trề khiến Xuân Diệu sử dụng ngôn từ đặc biệt:

+ Nghệ thuật điệp cấu trúc theo lối tăng tiến: Ta muốn: ôm, riết, say, thâu, cắn.

+ Kết hợp sử dụng các động từ mạnh, danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân, tính từ chỉ xuân sắc.

– Nhịp điệu của bài thơ dồn dập, hối hả, sôi nổi, cuồng nhiệt.

* Xuân Diệu đã sử dụng các hình ảnh độc đáo, mới lạ: Mây đưa gió lượn, cánh bướm với tình yêu, cái hôn nhiều, cây, cỏ rạng, mùi thơm ánh sáng, thanh sắc, thời tươi, xuân hồng… kết hợp với các động từ mạnh và tính từ chỉ xuân sắc → thể hiện lòng yêu đời, ham sống bùng lên hối hả để tận hưởng những hương vị ngọt ngào, say đắm của cuộc sống.

Luyện tập

(trang 23 sgk Ngữ Văn 11 Tập 2): Trong Nhà văn hiện đại ….

– Trong đoạn 1 và đoạn 3 là tình yêu đời, ham sống vội vàng, cuống quýt bùng lên hối hả để tận hưởng những hương vị ngọt ngào, say đắm của cuộc sống.

– Đoạn 2 tập trung thể hiện quan niệm hết sức mới mẻ của nhà thơ: Với Xuân Diệu, thế giới này đẹp nhất là vì có con người giữa tuổi trẻ và tình yêu. Thời gian quý giá nhất của mỗi con người là tuổi trẻ, hạnh phúc lớn nhất của tuổi trẻ chính là tình yêu.

Bài soạn “Vội vàng” của Xuân Diệu số 2

Bài soạn “Vội vàng” của Xuân Diệu số 6

III. Trả lời câu hỏi

Câu 1:

Bố cục

– Chia làm 3 đoạn:

+ Đoạn 1: Tình yêu tha thiết đối với cuộc sống.

+ Đoạn 2: Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời.

+ Đoạn 3: Khát vọng sống, khát vọng yêu cuồng nhiệt, hối hả.

Câu 2:

Cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu được nói đến trong 11 câu thơ được thể hiện như sau:

Tác giả nhận thức về thời gian trôi chảy, lấy tuổi trẻ, khoảng ngắn ngủi nhất của cuộc đời, để đo thời gian. Điều ấy dẫn đến cách cảm nhận về thời gian tinh tế trong đoạn thơ.

+ Thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại. Tác giả có một sự cảm nhận đầy tính mất mát.

⟶ Nghich lí nhưng cũng là quy luật tất yếu.

+Nhà thơ yêu say đắm cuộc sống.

+Từ láy “bâng khuâng” ⟶ Sự nuối tiếc vì những tháng năm tuổi trẻ trôi qua nhanh chóng

– “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi…tiễn biệt”

Nhân hóa, cảm nhận bằng mọi giác quan, mỗi khắc trôi qua là một sự mất mát.

⟹ Mỗi sự vật đang ngậm ngùi tiễn biệt một phần đời của chính nó cùng với sự ra đi của thời gian là sự phôi pha, phai tàn của từng cá thể. Trong tác giả luôn hiện hữu một tình yêu da diết với mùa xuân, với tuổi trẻ và với cuộc đời. Nó kiến tác giả như như muốn sống mãi trong tuổi trẻ, trong mùa xuân của cuộc đời.

Câu 3:

Tác giả đã có những cảm nhận hết sức sâu sắc với thiên nhiên, với sự sống.

Bốn câu thơ đầu tiên đã diễn tả tình yêu tha thiết đối với cuộc sống qua việc ông miêu tả những hình ảnh thiên nhiên.

*9 câu thơ tiếp: Nhà thơ tìm được một thiên đường ngay trên mặt đất.

– Nhịp thơ nhanh, gấp biểu hiện hơi thở sống, nhịp điệu sống, nhịp tim, nhịp thở phật phồng.

– So sánh cuộc sống thiên nhiên như người đang yêu, như tình yêu đôi lứa đắm say, tràn trề hạnh phúc.

⟹ Tác giả cảm nhận thiên nhiên qua lăng kính tình yêu, cảnh vật đều nhuốm màu tình tứ.

⟹ Từ đó cho thấy quan niệm mới về cuộc sống về tuổi trẻ và hạnh phúc.

– Xuân Diệu yêu tuổi trẻ và biết quý tuổi trẻ của mình bởi đây là khoảng thời gian đẹp và đáng sống nhất, có nhiều hạnh phúc nhất của cuộc đời một con người.

Câu 4:

Đoạn cuối của bài thơ:

“Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Hỡi Xuân Hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”

Đó là lời giúc giã sống vội vàng, cuống quýt của thi sĩ.

– Điệp ngữ “Ta muốn”: khát vọng sống mãnh liệt, khát vọng được yêu thương: “Ta muốn say cánh bướm với tình yêu”; điệp cảm xúc theo lối tăng tiến (Ta muốn ôm, Ta muốn riết … Ta muốn cắn), trạng thái tăng tiến (cho chếnh choáng, cho đã đầy, cho no nê …).

– Liệt kê: hình ảnh “mây, gió, cánh bướm, non nước, cây, cỏ …” cảm nhận về không gian của cuộc sống mới mơn mởn, đầy ánh sáng rất đáng yêu. Xuân Diệu tả cảnh sắc mùa xuân về với thời non tươi của nó để tận hưởng.

– Cảm nhận về mùi vị “thơm” hương cuộc sống. Thính giác cảm nhận “thanh sắc của thời tươi”, “Cái hôn”,“cắn” ⟶ Cảm giác mãnh hệt, vồ vập, yêu thương

– “Ta muốn ôm ⟶ riết ⟶ say ⟶ thâu ⟶ cắn”: các động từ, tăng tiến thể hiện sự vồ vập, đắm say ⟶ tình yêu mãnh liệt táo bạo của một cái “tôi” thi sĩ yêu cuộc sống cuồng nhiệt, tha thiết với mềm vui trần thế, tâm thế sống tích cực.

⟹ Không thể níu giữ thời gian, không thể sống hai lần tuổi trẻ nên thi nhân vội vàng cuống quýt nỗi khát khao.

LUYỆN TẬP:

Câu nói của nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan đã tổng kết chung nhất là quan niệm sáng tác cũng như nghệ thuật của Xuân Diệu.

+ Thơ Xuân Diệu mang đến hai nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân.

+ Trong mọi hoàn cảnh tâm lí, tâm trạng thì Xuân Diệu cũng đều thể niệm một nỗi niềm yêu đời tha thiết: “Dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”.

– Triết lí sống vội vàng mà Xuân Diệu thể hiện trong Tác phẩm:

+ Phải vội vàng tận hưởng hạnh phúc và niềm vui mà cuộc đời ban tặng cho con người. Thời gian cứ vô tình trôi đi mà không đợi chờ ai bao giờ cả.

+ Phải vội vàng thâu nhận những vẻ đẹp của sự sống vì cái đẹp cũng giống như tuổi trẻ sẽ qua đi rất nhanh, không bao giờ trở lại.

+ Phải vội vàng lên, phát huy mọi giác quan để cảm nhận cuộc đời, để nhận gấp nhiều lần sự sống.

* Quan niệm sống của Xuân Diệu

+ Đối với Xuân Diệu: thế giới này đẹp nhất, mê hồn nhất là vì có con người. Họ được sống giữa tuổi trẻ và tình yêu.

+ Thời gian quý giá nhất của mỗi đời ngươig là tuổi trẻ, mà hạnh phúc lớn nhất của tuổi trẻ là Tình yêu.

+ Biết hưởng thụ chính đáng những gì mà cuộc sống dành cho mình, hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, nhất là những tháng năm tuổi trẻ.

– Với cảm hứng về “tuổi xuân” lúc nào Xuân Diệu cũng là thanh niên với giọng yêu đời thắm thiết.

Bài soạn “Vội vàng” của Xuân Diệu số 3

Bài soạn “Vội vàng” của Xuân Diệu số 6

I. Tác giả

1. Cuộc đời

– Xuân Diệu (1916 – 1985) tên thật là Ngô Xuân Diệu, quê cha ở làng Trảo Nha, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, sinh ra ở vạn Gò Bồi, xã Tùng Giản, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định (quê mẹ).

– Học xong tú tài, Xuân Diệu có thời gian làm tham tá thương chính ở Mỹ Tho (1940 – 1943), sau thôi việc ra Hà Nội viết văn, làm báo.

– Ông là một thành viên của tổ chức Tự Lực văn đoàn.

– Sau năm 1945, Xuân Diệu là đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khoá I (1946 – 1960).

– Với những cống hiến cho nền văn học nước nhà, Xuân Diệu xứng đáng với danh hiệu một nhà thơ lớn, một nghệ sĩ lớn, một nhà văn hoá lớn.

2. Sự nghiệp văn học

– Xuân Diệu có thơ đăng báo từ 1935, được chào đón như một đại diện tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới với các tập Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945). Xuân Diệu cũng chính là tác giả của tập truyện ngắn Phấn thông vàng (1939) khá đặc sắc.

– Sau 1945, ông vẫn tiếp tục sáng tác thơ, viết nhiều tiểu luận về thơ và tham gia hoạt động xã hội một cách tích cực, có uy tín và ảnh hưởng rộng rãi.

– Các tập thơ chính (sau hai tập trên): Ngọn quốc kì (1945), Hội nghị non sông (1946), Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau – Cầm tay (1962), Tôi giàu đôi mắt (1970), Hồn tôi đôi cánh (1976), Thánh ca (1982)…

– Các tập bút kí, tiểu luận phê bình: Trường ca (1945), Tiếng thơ (1951), Những bước đường tư tưởng của tôi (1958), Và cây đời mãi mãi xanh tươi (1971), Các nhà thơ cổ điển Việt Nam (2 tập – 1981, 1982), Công việc làm thơ (1984)…

– Xuân Diệu là nhà thơ có sức sáng tạo dồi dào, bền bỉ, có đóng góp to lớn, nhiều mặt cho nền văn hoá, văn học dân tộc. Ông đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt I (1996).

3. Phong cách nghệ thuật

– Xuân Diệu được mệnh danh là ông hoàng của thơ tình, thơ ông thấm đẫm chất men say tình ái, của trái tim rạo rực khao khát được hiến dâng và mong đợi tình yêu.

– Một thời, phong cách thơ Xuân Diệu vẫn bị xem là Tây nhưng đó lại là hình thức tốt nhất giúp nhà thơ lưu giữ được những ấn tượng, những cảm nhận rất mới về sự sống.

– Trước Cách mạng tháng tám, Xuân Diệu được mệnh danh là nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới. Thơ ông thể hiện sự thoát xác trọn vẹn khỏi tính qui phạm của văn học trung đại. Sau cách mạng, thơ Xuân Diệu hướng mạnh vào thực tế đời sống và rất giàu tính thời sự. Ông cổ vũ và hăng hái thể nghiệm khuynh hướng phối kết hai nền văn hoá Đông và Tây trong thơ.

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh xuất xứ

– Vội vàng được in trong tập Thơ thơ xuất bản năm 1938, được xem là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám.

2. Nội dung

– Bài thơ thể hiện triết lí sống “vội vàng” của Xuân Diệu, một kiểu sống lãng mạn nhưng lại rất thiết thực, trần thế.

– Bằng cách phô bày mọi vẻ đẹp của thiên đường trần thế, bài thơ thể hiện cái nhìn nhạy cảm với thời gian của Xuân Diệu và bộc lộ niềm khát khao giao cảm mạnh mẽ với cuộc đời.

3. Bố cục

Có thể chia bài thơ thành 3 phần như sau:

– Đoạn 1 (13 câu thơ đầu): Bộc lộ tình yêu trần thế tha thiết.

– Đoạn 2 (Từ câu 14 đến câu 29): Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người trước sự trôi đi nhanh chóng của thời gian.

– Đoạn 3 (Từ câu 30 đến hết): Lời giục giã cuống quýt, vội vàng để tận hưởng những giây phút tuổi xuân của cuộc đời, của vũ trụ.

4. Một số ý kiến nhận định về Xuân Diệu và bài thơ Vội vàng

– “… Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân.

… Thơ Xuân Diệu là một nguồn sống dào dạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn tha thiết.”

(Hoài Thanh, Hoài Chân – Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội 1988)

– “Bài thơ là tiếng nói sôi nổi hăm hở của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt…”

(Nguyễn Đăng Mạnh – SGK Văn 11, tập 2 NXB Giáo dục 2000)

– “Nhà thi sĩ ấy là một chàng trai trẻ hiền hậu và say mê, tóc như mây vương trên dải trán ngây thơ, mắt như lưu luyến mọi người và miệng cười mở rộng như một tấm lòng sẵn sáng ân ái. Chàng đi trên đường thơ, hái những bông hoa gặp dưới chân, những hương sắc nẩy ra bởi ánh sáng của lòng chàng. Thơ Thơ là cụm đầu mùa chàng tặng cho nhân gian. Và từ đây, chúng ta đã có Xuân Diệu.”

(Thế Lữ – Tựa tập Thơ thơ – Tuyển tập Xuân Diệu)

– “Vội vàng (trong tập Thơ thơ – 1938) và Giục giã (trong tập Gửi hương cho gió – 1915) là hai bài thơ tiêu biểu cho quan niệm về thời gian trong thơ Xuân Diệu. Thời gian nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu mang sắc thái riêng: thi sĩ dồn nén quá khứ, tương lai về hiện tại và trong cái hiện tại, nhà thơ chỉ chú ý tới cái – bây – giờ”.

(Phan Cư Đệ – Bình giảng văn học Việt Nam hiện đại – NXB ĐHQG, Hà Nội 2002)

Đọc – hiểu văn bản

Câu 1 – Trang 23 SGK

Bài thơ có thể chia làm mấy đoạn? Nêu ý chính của từng đoạn.

Trả lời:

Bố cục bài thơ có thể được chia thành 3 đoạn:

– Đoạn 1 (13 câu thơ đầu): Bộc lộ tình yêu cuộc sống trần thế tha thiết.

– Đoạn 3 (còn lại): Lời giục giã cuống quýt, vội vàng để tận hưởng những giây phút tuổi xuân của mình giữa mùa xuân của cuộc đời, của vũ trụ.

Ba đoạn thơ này vận động vừa rất tự nhiên về cảm xúc vừa rất chặt chẽ về luận lí. Nó làm cho bài thơ như là một dòng chảy dào dạt, hồn nhiên của tâm trạng.

Câu 2 – Trang 23 SGK

Xuân Diệu cảm nhận về thời gian như thế nào? Vì sao nhà thơ có tâm trạng vội vàng, cuống quýt trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian?

Thời gian của tự nhiên thì luôn tuân thủ theo quy luật vận động bất biến. Nhưng quan niệm về thời gian, sự cảm nhận về thời gian thì ở mỗi thời đại và ở mỗi cá nhân lại có thể có những nét khác nhau. Thơ Xuân Diệu và nhất là trong Vội vàng, Xuân Diệu đã đưa ra một quan niệm mới, một cảm nhận mới về thời gian. Nếu các nhà thơ trung đại quan niệm thời gian là tuần hoàn, là vĩnh cửu thì Xuân Diệu, nhờ tri thức khoa học của thời đại và ảnh hưởng của văn hoá phương Tây đã nhận ra thời gian vận động tuyến tính, một đi không trở lại. Thời gian thật sự khắc nghiệt, đời người có hạn và tuổi xuân ngắn ngủi.

Thực ra thì từ xa xưa, nhiều thi nhân đã từng than thở về sự ngắn ngủi của đời người. Người ta gọi kiếp người là “áng phù vân”, là “bóng câu qua cửa sổ”,… Nhưng do xuất phát từ cái nhìn tĩnh tại, có tính siêu hình, lấy sinh mệnh vũ trụ để làm thước đo thời gian nên quan niệm thời gian là tuần hoàn. Thời ấy, cá nhân chưa tách khỏi cộng đồng, con người còn gắn làm một với vũ trụ, cho nên người ta vẫn đinh ninh người chết chưa hẳn là hư vô, vẫn có thể cùng với cộng đồng và trời đất tuần hoàn. Vì thế nhân vật trữ tình trong thơ ca trung đại thường ở tư thế ung dung, tự tại, bình tĩnh, ít thấy có sự vội vàng, cuống quýt để “sống gấp”.

Đến thế hệ các nhà thơ mới, khi ý thức cá nhân đã trỗi dậy mạnh mẽ, quan niệm về thời gian như trên đã hoàn toàn đổ vỡ. Xuân Diệu đưa ra một quan niệm mới, chống đối lại quan niệm thời gian tuần hoàn của người xưa. Với ông hoàng thơ tình Xuân Diệu, thời gian là tuyến tính, một đi không trở lại. Vũ trụ không ngừng vận động, thời gian luôn luôn chảy trôi, mỗi giây phút trôi qua là mất đi vĩnh viễn. Quan niệm này xuất phát từ cái nhìn động, rất biện chứng về vũ trụ và thời gian:

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già.

Nhà thơ đã lấy cái quỹ thời gian hữu hạn của đời người, thậm chí lấy khoảng thời gian quý giá nhất của mỗi cá nhân là tuổi trẻ để làm thước đo thời gian. Lời thơ được cấu trúc thành một cuộc tranh biện, theo đó nhà thơ khẳng định dẫu vũ trụ có thể vĩnh viễn, thời gian có thể tuần hoàn, nhưng “tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại”:

Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.

Lòng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,

Không cho dài thời trẻ của nhân gian,

Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại!

Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi mãi,

Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời,

Nhìn thấu sự trôi qua nhanh chóng, một đi không trở lại của thời gian nên cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu là cảm nhận đầy tính mất mát, mỗi khoảnh khắc trôi qua là một sự mất mát, chia lìa: “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi – Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”. Mỗi sự vật trong vũ trụ đang từng giây, từng phút ngậm ngùi chia li, tiễn biệt một phần của đời mình:

Con gió xinh thì thào trong lá biếc,

Phải chăng hờn vì nỗi phải bay đi?

Cách cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu, xét đến cùng là do ý thức sâu sắc về “cái tôi” cá nhân, về sự tồn tại có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên đời, nâng niu trân trọng từng giây, từng phút của cuộc đời, nhất là những năm tháng tuổi trẻ. Trong hoàn cảnh bình thường của đất nước, đây là một quan niệm và thái độ sống tích cực, thấm đượm tư tưởng nhân văn.

Vì thời gian chảy trôi vội vã nên không thể không níu thời gian ở lại:

Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi;

Nhưng đó chỉ là một mong ước không bao giờ thực hiện được. Vậy chỉ còn một cách thôi: Hãy mau lên, “vội vàng” lên để tận hưởng những giây phút tuổi xuân của mình, tận hưởng những gì mà cuộc đời ban tặng cho mình: “Cho chếnh choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng – Cho no nê thanh sắc của thời tươi”. Đó là niềm khát khao sống sôi nổi, mãnh liệt của thanh niên, của tuổi trẻ.

Câu 3 – Trang 23 SGK

Hình ảnh thiên nhiên, sự sống quen thuộc được tác giả cảm nhận và diễn tả như thế nào? Hãy chỉ ra những nét mới trong quan niệm của Xuân Diệu về cuộc sống, tuổi trẻ và hạnh phúc.

Vội vàng, cuống quýt níu giữ thời gian, khát khao sống dạt dào cảm xúc với thời trai trẻ, Xuân Diệu đã phát hiện ra có một thiên đường ngay trên mặt đất này, không xa lạ mà rất đỗi thân quen, ở ngay trong tầm tay của mỗi chúng ta. Hình ảnh thiên nhiên và sự sống quen thuộc hiện ra qua cái nhìn và sự cảm nhận độc đáo của nhà thơ. Hình ảnh thiên nhiên và sự sống được Xuân Diệu gợi lên vừa gần gũi, thân quen, vừa quyến rũ, đầy tình tứ. Nhà thơ đã phát hiện ra vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên và thổi vào đó một tình yêu rạo rực, đắm say, ngây ngất:

Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

Này đây lá của cành tơ phơ phất;

Của yến anh này đây khúc tình si;

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi,

Mỗi buổi sớm, thần Vui hằng gõ cửa;

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

Hình ảnh thiên nhiên và sự sống, qua cảm nhận của Xuân Diệu, như đã nói, còn nhuốm màu chia li, mất mát: “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi […] – Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa”. Đây chính là hình ảnh thiên nhiên và cuộc sống được cảm nhận qua lăng kính thời gian, một thời gian trôi qua nhanh chóng, một đi không trở lại.

Thiên nhiên qua con mắt Xuân Diệu đều nhuốm màu tình tứ, đều tràn ngập xuân tình, tràn đầy sắc dục. Đó là cái nhìn lấy con người làm chuẩn mực cho thiên nhiên, quy chiếu thiên nhiên về vẻ đẹp của giai nhân: “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”, “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”, “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!”. Đây là một cách nhìn rất mới, rất Xuân Diệu.

Qua cách miêu tả hình ảnh thiên nhiên, Xuân Diệu đã thể hiện một quan niệm mới về cuộc sống, về tuổi trẻ và hạnh phúc. Đối với Xuân Diệu, thế giới này đẹp nhất, mê hồn nhất là vì có con người giữa tuổi trẻ và tình yêu. Thời gian quý giá nhất của mỗi đời người là tuổi trẻ, mà hạnh phúc lớn nhất của tuổi trẻ chính là tình yêu. Đó là một quan niệm mới, tích cực, thấm đượm tinh thần nhân văn.

Câu 4 – Trang 23 SGK

Hãy nhận xét về đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ và nhịp điệu của đoạn thơ cuối bài. Nhà thơ đã sáng tạo được hình ảnh nào mà anh (chị) cho là mới mẻ, độc đáo nhất?

– Hình ảnh trong đoạn thơ cuối gần gũi, quen thuộc mà tươi mới, giàu sức sống, đầy quyến rũ và tình tứ. Đó là những hình ảnh rất táo bạo, đầy cảm giác và có tính sắc dục.

– Ngôn từ của bài thơ tự nhiên, gần với lời nói thường, nhưng đã được nâng lên thành nghệ thuật. Cảm xúc dào dạt, mãnh liệt đã tạo nên những làn sóng ngôn từ vừa đan vào với nhau, vừa cộng hưởng với nhau theo chiều tăng tiến. Tác giả dùng dồn dập những động từ mạnh, tăng tiến chỉ động tác đắm say; nhiều danh từ chỉ vẻ đẹp thanh tân, tươi trẻ; nhiều tính từ chỉ xuân sắc; nhiều điệp từ, điệp cú pháp có tác dụng nhấn mạnh ý.

– Nhịp điệu của đoạn thơ dồn dập, sôi nổi, hối hả, cuồng nhiệt.

Câu hỏi: Trong Nhà văn hiện đại, nhà phê bình, nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan đã viết: “Với những nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”.

Qua phân tích bài thơ Vội vàng, anh (chị) hãy làm sáng tỏ nhận định trên.

+ Trong mọi hoàn cảnh tâm lí, tâm trạng thì Xuân Diệu cũng đều thể hiện một nỗi niềm yêu đời tha thiết: “Dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”.

– Triết lí sống vội vàng mà Xuân Diệu thể hiện trong tác phẩm:

+ Phải vội vàng thu nhận những vẻ đẹp của sự sống vì cái đẹp cũng giống như tuổi trẻ sẽ qua đi rất nhanh, không bao giờ trở lại.

– Xuân Diệu đã thể hiện một quan niệm mới, tích cực, thấm đượm tinh thần nhân văn về cuộc đời, về tuổi trẻ, về hạnh phúc.

+ Thời gian quý giá nhất của mỗi đời người là tuổi trẻ, mà hạnh phúc lớn nhất của tuổi trẻ là tình yêu.

+ Đoạn 2 chính là những nỗi buồn của tác giả khi mà phải đứng nhìn thời gian qua đi, tuổi xuân cũng vì thế mà trôi đi mất. Đó là sự khát khao được cống hiến cho đời, cho cuộc sống nơi tác giả.

Bài soạn “Vội vàng” của Xuân Diệu số 5

Bài soạn “Vội vàng” của Xuân Diệu số 3

Câu 1 (trang 23 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Bố cục: 3 đoạn:

– Đoạn 1: Tình yêu tha thiết đối với cuộc sống.

– Đoạn 2: Nỗi băn khoăn trước thời gian và cuộc đời.

– Đoạn 3: Khát vọng sống, khát vọng yêu cuồng nhiệt, hối hả.

Câu 2 (trang 23 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

Cảm nhận về thời gian của Xuân Diệu thể hiện như sau:

– Thời gian tươi đẹp, ngọt ngào (tuần tháng mật, tháng Giêng ngon như một cặp môi gần).

– Thời gian đẹp nhất là mùa xuân và tuổi trẻ (các câu 14 → 18).- Thời gian khách quan tuần hoàn nhưng thời gian đời người hữu hạn (câu 18→ 22).

– Quan niệm về thời gian của Xuân Diệu là thời gian tuyến tính, một đi không bao giờ trở lại. Nếu các nhà thơ trung đại, quan niệm thời gian là tuần hoàn, là vĩnh cửu thì với Xuân Diệu mỗi phút giây trôi qua là mất đi vĩnh viễn

– Nhà thơ vội vàng, cuống quýt trước sự trôi qua nhanh chóng của thời gian bởi cuộc đời quá tươi đẹp trong khi quỹ đời của con người lại ngắn ngủi.

– Nhà thơ yêu say đắm cuộc sống.

+ Nhân hóa, cảm nhận bằng mọi giác quan, mỗi khắc trôi qua là một sự mất mát.

– So sánh với quan niệm thời trung đại:

+ Người xưa coi thời gian tuần hoàn như một vòng tròn khép kín nên ung dung, điềm tĩnh trước sự chảy trôi của kiếp người.

+ Xuân Diệu coi thời gian là tuyến tính nên vô cùng nuối tiếc, lo âu.

Câu 3 (trang 23 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

* 4 câu thơ đầu:

– Mục đích: Cho màu đừng nhạt mất, cho hương đừng bay đi.

* 9 câu thơ tiếp: Nhà thơ tìm được một thiên đường ngay trên mặt đất.

+ Cuộc sống vô cùng tươi đẹp và đáng quý, đó là thiên đường giữa trần gian.

+ Tuổi trẻ là thời gian đáng quý nhất, ý nghĩa nhất, đẹp đẽ nhất trong đời người.

+ Hạnh phúc lớn nhất, tuyệt diệu nhất của con người chính là tình yêu.

Câu 4 (trang 23 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

– Đó là lời giúc giã sống vội vàng, cuống quýt của thi sĩ.

– Điệp ngữ “Ta muốn”: khát vọng sống mãnh liệt, khát vọng được yêu thương

– Liệt kê: hình ảnh “mây, gió, cánh bướm, non nước, cây, cỏ …” cảm nhận về không gian của cuộc sống mới mơn mởn, đầy ánh sáng rất đáng yêu.

– Cảm nhận về mùi vị “thơm” hương cuộc sống. Thính giác cảm nhận “thanh sắc của thời tươi”, “Cái hôn”,“cắn”

– Hình ảnh độc đáo: “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi”

Câu hỏi (trang 23 SGK Ngữ văn 11 tập 2)

– Xuân Diệu đã thể hiện 1 quan niệm mới, tích cực, thấm đượm tinh thần nhân văn về cuộc đời, về tuổi trẻ, về hạnh phúc.

+ Đoạn 2 chính là những nỗi buồn của tác giản khi mà phải đứng nhìn thời gian qua đi, tuổi xuân cũng vi thế mà trôi đi mất. Đó là sự khát khao được cống hiến cho đời, cho cuộc sống nơi tác giả.

Nội dung chính

Vội vàng là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây, từng phút của cuộc đời mình, nhất là những năm tháng tuổi trẻ của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt.

Bài soạn “Vội vàng” của Xuân Diệu số 5

Bài soạn “Vội vàng” của Xuân Diệu số 4

Bài soạn “Vội vàng” của Xuân Diệu số 5

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

1. Tác giả:

2. Tóm tắt tác phẩm:

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: Trang 23 sgk ngữ văn lớp 11 tập 2

Bài làm:

Đăng bởi: Tiền Đỗ

Từ khoá: 6 Bài soạn “Vội vàng” của Xuân Diệu lớp 11 hay nhất

Soạn Bài Sọ Dừa

Soạn bài Sọ Dừa hay nhất – sách Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo

Soạn văn lớp 6 Kết nối tri thức với cuộc sống trả lời câu hỏi trước khi đọc, trong khi đọc và sau khi đọc cuối bài học bám sát tiến trình sách giáo khoa.

– Bộ sách Chân trời sáng tạo

Soạn bài Sọ Dừa – sách Chân trời sáng tạo

Lưu trữ: Soạn bài: Sọ Dừa – sách cũ

Bố cục:

– Đoạn 1 (Từ đầu … đặt tên cho nó là Sọ Dừa): Sự ra đời của Sọ Dừa.

– Đoạn 3 (còn lại): Biến cố bị hãm hại và sự đoàn tụ vợ chồng.

Hướng dẫn soạn bài

Câu 1 (trang 54 sgk ngữ văn 6 tập 1)

– Sự mang thai kì lạ của người mẹ: uống nước trong chiếc sọ dừa và mang thai

– Hình dạng khi ra đời khác thường, dị dạng: không chân, không tay, tròn như quả dừa

⇒ Kể về sự ra đời Sọ Dừa, dân gian muốn thể hiện sự cảm thông với nhân vật trong xã hội có thân phận thấp kém, mang hình dạng xấu xí

Câu 2 (trang 54 sgk ngữ văn 6 tập 1)

+ Chăn bò rất giỏi

+ Thổi sáo rất hay

+ Có tài dự đoán tương lai chính xác (dặn dò vợ trước khi đi thi)

– Hình dạng bên ngoài của Sọ Dừa xấu xí, dị dạng đối lập với phẩm chất bên trong.

Câu 3 (trang 54 sgk ngữ văn 6 tập 1)

Cô út bằng lòng lấy Sọ Dừa vì:

– Cô út yêu Sọ Dừa chân thành: “có của ngon vật lạ đều giấu đem cho chàng”

Nhân vật:

– Thông minh, biết xử trí kịp thời để thoát nạn ( thoát chết khi bị cá nuốt)

– Con người thành thực, nết na

Câu 4 (trang 54 sgk ngữ văn 6 tập 1)

Người lao động muốn thể hiện những ước mơ:

– Mơ về sự đổi đời: Sọ Dừa từ nhân vật xấu xí, thấp kém cuối cùng thành người khôi ngô, tài giỏi và được hưởng hạnh phúc

– Ước mơ về sự công bằng trong xã hội:

+ Người độc ác, tham lam, dối trá sẽ bị trừng trị thích đáng.

Câu 5 (trang 54 sgk ngữ văn 6 tập 1)

– Truyện đề cao giá trị thực, ca ngợi vẻ đẹp bên trong của con người. Truyện nêu lên bài học khi đánh giá, nhìn nhận một con người: phải xem xét toàn diện, không nên chỉ nhìn vẻ bề ngoài

– Truyện đề cao lòng nhân ái, sự yêu thương đùm bọc lẫn nhau.

Luyện tập

Bài 1 (trang 54 sgk ngữ văn 6 tập 1)

Các câu chuyện khác cùng motip với chuyện Sọ Dừa:

Bài 2 (trang 54 sgk ngữ văn 6 tập 1)

Kể diễn cảm truyện Sọ Dừa

– Giọng than phiền của người mẹ

– Giọng mỉa mai, kẻ cả của phú ông

Bài giảng: Sọ Dừa – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

Lời văn, đoạn văn tự sự

Thạch Sanh

Trả bài tập làm văn số 1

Soạn Văn 6 (siêu ngắn)

Soạn Văn lớp 6 (cực ngắn)

Tác giả – Tác phẩm Văn 6

Lý thuyết, Bài tập Tiếng Việt – Tập làm văn 6

Giải vở bài tập Ngữ văn 6

Đề thi Ngữ Văn 6 (có đáp án)

Soạn Bài Bài Học Đường Đời Đầu Tiên – Cánh Diều 6 Ngữ Văn Lớp 6 Trang 3 Sách Cánh Diều Tập 2

Soạn bài Bài học đường đời đầu tiên

Nội dung chi tiết của tài liệu sẽ được chúng tôi giới thiệu đến các bạn học sinh lớp 6 ngay sau đây. Mời các bạn học sinh cùng tham khảo.

Kiến thức Ngữ Văn

– Truyện đồng thoại là loại truyện thường lấy loài vật làm nhân vật. Các con vật trong truyện đồng thoại được các nhà văn miêu tả, khắc họa như con người (gọi là nhân cách hóa).

– Đề tài là phạm vi cuộc sống được miêu tả trong văn bản. Ví dụ: Đề tài của truyện Sự tích Hồ Gươm là đánh giặc cứu nước.

– Chủ đề là vấn đề chính được thể hiện trong văn bản. Ví dụ: Chủ đề của truyện Sự tích Hồ Gươm là tinh thần yêu nước và khát vọng hòa bình của nhân dân ta.

2. Mở rộng chủ ngữ

– Chủ ngữ là một trong hai thành phần chính của câu, chỉ sự vật, hiện tượng có hoạt động, trạng thái, đặc điểm nêu ở vị ngữ; trả lời cho câu hỏi Ai? Con gì? Cái gì?

– Chủ ngữ thường được biểu hiện bằng danh từ, đại từ. Câu có thể có một hoặc nhiều chủ ngữ.

– Để phản ánh đầy đủ hiện thực khách quan và biểu thị tình cảm, thái độ của người viết (người nói), chủ ngữ là danh từ thường được mở rộng thành cụm danh từ, tức là cụm danh từ có danh từ làm thành tố chính (trung tâm) và một hay một số thành tố phụ.

Soạn bài Bài học đường đời đầu tiên – Mẫu 1 1. Chuẩn bị

– Truyện kể về bài học đường đời đầu tiên của Dế Mèn.

– Các sự việc chính được kể là:

Dế Mèn giới thiệu về bản thân.

Dế Mèn kể về người bạn hàng xóm là Dế Choắt.

Dế Mèn trêu chị Cốc.

Cái chết của Dế Choắt

Bài học đường đời đầu tiên của Dế Mèn.

– Những nhân vật trong truyện: Dế Mèn, Dế Choắt và chị Cốc. Nhân vật chính: Dế Mèn.

– Giống nhau giữa các con vật trong truyện và con người là ở:

Ngoại hình miêu tả giống con người: Dế Mèn: thanh niên cường tráng, đi bách bộ, đầu, to ra thành từng tảng, đứng oai vệ, mỗi bước đi làm điệu dún dẩy, kiểu cách con nhà ra võ…; Dế Choắt: gầy gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc phiện, đôi càng bè bè trông đến xấu, mặt mũi ngẩn ngơ ngơ…

Tính cách: Dế Mèn: hung hăng, hống hách, trịch thượng, Dế Choắt: yếu ớt, nhút nhát…

– Ý nghĩa câu chuyện muốn gửi gắm: Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn rồi cũng mang vạ vào mình đấy. Đây là một bài học có ý nghĩa, nhắc nhở mỗi người phải biết sống khiêm tốn, biết suy nghĩ trước khi hành động.

– Đôi nét về loài Dế Mèn: thuộc họ côn trùng, sống nhiều ở đồng cỏ, bụi rậm hoặc rừng cây, đa số hoạt động về đêm…

2. Đọc hiểu

(1) Hãy chú ý các chi tiết miêu tả Dế Mèn

– Ngoại hình:

Đôi càng mẫm bóng.

Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt.

Người rung rinh một màu nâu bóng mỡ, soi gương được và rất ưa nhìn.

Đầu tôi to ra, nổi từng tảng rất bướng.

Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp.

– Hành động và tính cách:

ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên chóng lớn lắm

một chàng dế thanh niên cường tráng

bước đi bách bộ, cả người rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn.

Chốc chốc lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu.

đi đứng oai vệ, mỗi bước đi làm điệu dún dẩy

hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc.

Dám cà khịa với tất cả mọi bà con trong xóm: quát mất chị Cào Cào, đá ghẹo anh Gọng Vó…

(2) Qua lời kể của Dế Mèn, em hình dung thế nào về Dế Choắt:

Gợi ý: Dế Choắt cũng trạc tuổi Dế Mèn. Thân hình gầy gò, lại yếu ớt.

(3) Hình ảnh Dế Mèn và Dế Choắt mà em hình dung ở phần 3 có điểm tương đồng nào với Dế Mèn và Dế Choắt trong bức tranh bên dưới?

Gợi ý: Nét tương đồng về ngoại hình: Dế Mèn khỏe mạnh, cường tráng; Dế Choắt gầy gò, ốm yếu.

(4) Dế Mèn đã “nghịch ranh” như thế nào?

Dế Mèn đã trêu đùa chị Cốc, khiến chị ta vô cùng tức giận.

(5) Tai họa mà Dế Mèn kể ở đây là gì? Xảy ra với ai?

– Tai họa mà Dế Mèn kể: Cái chết thương tâm của Dế Choắt.

– Xảy ra với Dế Choắt.

(6) Em hãy tưởng tượng nét mặt Dế Mèn lúc này:

Nét mặt đầy buồn bã, cúi gằm mặt xuống đầy hối hận.

3. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Câu chuyện trên được kể bằng lời của nhân vật nào? Hãy chỉ ra các nhân vật tham gia vào câu chuyện.

Câu chuyện được kể bằng lời của nhân vật: Dế Mèn.

Các nhân vật tham gia vào câu chuyện: Dế Mèn, Dế Choắt, chị Cốc.

Câu 2. Dế Mèn đã ân hận về việc gì? Hãy tóm tắt sự việc đó trong khoảng 3 dòng.

Dế Mèn đã ân hận về việc đã trêu chị Cốc nên đã gây ra cái chết thương tâm của Dế Choắt.

Tóm tắt: Dế Mèn là một chàng dế khỏe mạnh, cường tráng nhưng kiêu căng. Cậu bày trò trêu chị Cốc khiến chị ta vô cùng tức giận. Điều đó khiến cho Dế Choắt ở gần đó chịu vạ lây, phải nhận lấy cái chết thương tâm.

Câu 3. Dế Mèn đã có sự thay đổi về thái độ và tâm trạng như thế nào sau sự việc trêu chị Cốc dẫn đến cái chết của Dế Choắt? Vì sao có sự thay đổi ấy?

Sau khi trêu chị Cốc, Dế Mèn thản nhiên lên giường nằm khểnh bắt chân chữ ngũ và thấy hành động vừa rồi của mình thật thú vị.

Khi Dế Choắt bị chị Cốc mổ, Dế Mèn cảm thấy sợ hãi, ân hận và nhận ra sai lầm của bản thân.

Câu 4. Từ các chi tiết “tự hoạ” về bản thân và lời lẽ, cách xưng hô, điệu bộ, giọng điệu, thái độ của Dế Mèn đối với Dế Choắt, chị Cốc, em có nhận xét gì về tính cách của nhân vật này?

Dế Mèn rất tự tin và hãnh diện về bản thân.

Dế Mèn con kiêu căng, hống hách.

Câu 5. Ở cuối đoạn trích, sau khi chôn cất Dế Choắt, Dế Mèn đã “đứng lặng giờ lâu” và “nghĩ về bài học đường đời đầu tiên”. Theo em, đó là bài học gì?

Bài học mà Dế Mèn đã rút ra: Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có đầu óc mà không biết nghĩa sớm muộn rồi cũng mang vạ vào thân mình.

Câu 6. Nhà văn Tô Hoài từng chia sẻ: “Nhân vật trong truyện đồng thoại được nhân cách hoá trên cơ sở đảm bảo không thoát ly sinh hoạt có thật của loài vật.”. Dựa vào những điều em biết về loài dế, hãy chỉ ra những điểm “có thật” như thế trong văn bản, đồng thời, phát hiện những chỉ tiết đã được nhà văn “nhân cách hoá”.

– Những điểm “có thật”:

Đôi càng mẫm bóng.

Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt.

Người rung rinh một màu nâu bóng mỡ, soi gương được và rất ưa nhìn.

Đầu tôi to ra, nổi từng tảng rất bướng.

Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp.

– Những chi tiết được nhân cách hóa:

ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên chóng lớn lắm

một chàng dế thanh niên cường tráng

bước đi bách bộ, cả người rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn.

Chốc chốc lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu.

đi đứng oai vệ, mỗi bước đi làm điệu dún dẩy

hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc.

Dám cà khịa với tất cả mọi bà con trong xóm: quát mất chị Cào Cào, đá ghẹo anh.

Soạn bài Bài học đường đời đầu tiên – Mẫu 2 1. Tác giả

– Tô Hoài (1920 – 2014), tên khai sinh là Nguyễn Sen.

– Tô Hoài sinh ra tại quê nội ở thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông cũ. Tuy nhiên, ông lớn lên ở quê ngoại là làng Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội).

– Ông có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục, tập quán của nhiều vùng khác nhau trên đất nước ta.

– Sáng tác của ông thiên về diễn tả những sự thật đời thường.

– Các tác phẩm của ông thuộc nhiều thể loại khác nhau như truyện ngắn, truyện dài, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận…

– Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

– Một số tác phẩm tiêu biểu: Dế Mèn phiêu lưu ký (truyện dài, 1941), O chuột (tập truyện ngắn, 1942), Cỏ dại (hồi ký, 1944), Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953)…

2. Tác phẩm

– Xuất xứ: Bài học đường đời đầu tiên trích trong chương I của truyện Dế Mèn phiêu lưu kí. Tên của đoạn trích do người biên soạn SGK đặt.

– Tóm tắt: Dế Mèn là một chú dế cường tráng bởi biết ăn uống điều độ. Tuy nhiên, cậu chàng lại có tính kiêu căng, luôn nghĩ mình “có thể sắp đứng đầu thiên hạ”. Dế Mèn luôn coi thường những người xung quanh, đặc biệt là Dế Choắt – người bạn hàng xóm gầy gò và yếu ớt. Một lần, Dế Mèn bày trò trêu chị Cốc khiến cho Dế Choắt phải chịu oan. Choắt bị chị Cốc mổ đến kiệt sức. Trước khi chết, Choắt khuyên Dế Mèn bỏ thói kiêu căng của mình. Dế Mèn vô cùng ân hận và nhận ra bài học đường đời đầu tiên của mình.

– Bố cục:

Phần 1. Từ đầu đến “ có thể sắp đứng đầu thiên hạ ”: Dế Mèn giới thiệu về bản thân.

Phần 2. Tiếp theo đến “ Tôi về, không chút bận tâm ”: Câu chuyện về người bạn hàng xóm là Dế Choắt.

Phần 3. Còn lại: Bài học đường đời đầu tiên của Dế Mèn.

3. Đọc – hiểu văn bản

a. Dế Mèn giới thiệu về bản thân

– Hình dáng

Đôi càng mẫm bóng.

Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt.

Người rung rinh một màu nâu bóng mỡ, soi gương được và rất ưa nhìn.

Đầu tôi to ra, nổi từng tảng rất bướng.

Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp.

– Cử chỉ, hành động:

Advertisement

ăn uống điều đồ, làm việc có chừng mực

bước đi bách bộ, cả người rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn.

Chốc chốc lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu.

đi đứng oai vệ, mỗi bước đi làm điệu dún dẩy các khoeo chân, rung lên rung xuống hai chiếc râu.

Dám cà khịa với tất cả mọi bà con trong xóm: quát mất chị Cào Cào, đá ghẹo anh Gọng Vó…

b. Câu chuyện về người bạn hàng xóm là Dế Choắt

– Dự đoán về sự việc sắp được kể: Dế Mèn kiêu ngạo, hung hăng sẽ trêu trọc, coi thường Dế Choắt.

– Cuộc đối thoại giữa Dế Mèn và Dế Choắt:

Một lần sang chơi nhà Choắt, Dế Mèn lên tiếng chê bai: “Sao chú mày sinh sống cẩu thả quá như thế. Nhà cửa đâu mà tuềnh toàng…Ôi thôi, chú mày ơi! Chú mày có lớn mà chẳng có khôn..”.

Hay khi Choắt bày tỏ ý muốn Dế Mèn đào một cái ngách sang bên nhà của Mèn, để khi có kẻ đến bắt nạt thì giúp đỡ nhau. Nhưng Dế Mèn lại khinh khỉnh: “Hức! Thông ngách sang nhà ta? Dễ nghe nhỉ? Chú mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được. Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. Đào tổ nông thì cho chết!”. Sau đó, chàng ta trở về mà chẳng nghĩ ngợi gì.

– Khi Dế Mèn rủ Dế Choắt không hề nghĩ đến hậu quả, khiến chị Cốc tức giận. Dế Mèn nhanh chóng chui vào hang để Dế Choắt một mình đối mặt với chị Cốc. Chú Dế Choắt tội nghiệp phải chịu nỗi oan ức, bị chị Cốc mổ cho đến kiệt sức. Nhưng Dế Mèn vẫn không ra cứu bạn, nhận lỗi về mình và chịu trách nhiệm về lỗi lầm. Cuối cùng Dế Choắt kiệt sức mà chết.

– Khi Dế Choắt chết: Dế Mèn ân hận về cách đối xử của mình với Dế Choắt. Nó hối hận khi đã gián tiếp gây ra cái chết của Dế Choắt. Nó tự trách mình rằng nó là một kẻ có sức mạnh nhưng lại chỉ biết trốn tránh một cách nhát gan. Chôn cất Dế Choắt xong, cảm giác của nó thật hụt hẫng và bất lực bởi Dế Choắt đã chết rồi, đâu thể cứu vãn được nữa. Dế Mèn đứng lặng bởi nó muốn suy nghĩ một cách nghiêm túc về cách sống của mình trong suốt thời gian qua.

6 Bài Soạn “Bài Ca Nhà Tranh Bị Gió Thu Phá” Của Đỗ Phủ Lớp 7 Hay Nhất

Bài soạn “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” số 1

III. Hướng dẫn trả lời câu hỏi

Câu 1 (trang 133 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Bài thơ chia làm 4 phần:

+ Phần 1 (khổ thứ nhất): tác giả miêu tả cảnh nhà tranh bị gió thu thổi bay lớp tranh

+ Phần 2 (khổ 2): Những đứa trẻ lấy nốt những lớp tranh bị thổi tung

+ Phần 3 (khổ 3): Nỗi khổ mà gia đình tác giả đối mặt trong đêm mưa

+ Phần 4 (khổ 4) Ước mơ cao cả của tác giả

b, Bài thơ có 3 khổ thơ 5 câu: khổ 1, 2 và 4

– Khổ thơ 1,2, 3 đa phần có 7 chữ trong mỗi câu thơ

– Khổ thơ 4 số chữ là 9, 10 chữ trong mỗi dòng

– Cách gieo vần:

+ Khổ thơ 2 và 3 gieo vần trắc: thể hiện sự khốn cùng đến đau xót, dằn vặt của tác giả

+ Khổ thơ cuối chủ yếu là vần bằng thể hiện mơ ước của tác giả về cuộc sống ấm no hơn.

Câu 2 (trang 134 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Câu 3 (trang 134 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Nỗi khổ khi ngôi nhà bị gió thu phá: cái bay sang sông, trên ngọn cây, rơi xuống lòng mương tơi tả

→Cảnh tượng điêu tàn

– Đỗ Phủ rất nghèo, để có được căn nhà đó phải nhờ vào sự trợ giúp của những người thân thích và bạn bè nay đã bị gió cuốn

– Nỗi khổ của sự bất lực: Hình ảnh lũ trẻ đua nhau cướp những tấm tranh chạy đi, đối diện với hình ảnh ông già chống gậy yếu ớt, bất lực

– Tình cảnh khổ cực khi phải đối mặt với cảnh mưa lạnh: chăn mền ướt rách nát, con thơ đạp lên rách nát thêm, cả nhà run rẩy

– Nỗi khổ trong chiến tranh loạn lạc: Chiến tranh là căn nguyên chính của những nỗi khổ thường nhật kia

+ Vì chiến tranh mà gia đình phải lang bạt, nhà thơ phải từ quan, những đứa trẻ phải đi cướp giật từ người khác

→Thông qua cách miêu tả sinh động, chân thực và hàm súc hiện lên cảnh khốn cùng của tác giả cũng chính là bức tranh chung của xã hội những ngày đen tối

Câu 4 (trang 134 sgk ngữ văn 7 tập 1)

Nếu không có đoạn cuối của bài thơ thì giá trị biểu cảm của bài thơ giảm đáng kể khi chỉ có giá trị hiện thực:

+ Người đọc sẽ chỉ nhìn thấy hoàn cảnh khốn khó của nhà thơ mà không nhìn thấy được tấm lòng nhân hậu của nhà thơ

+ Không thấy được vẻ đẹp của giấc mơ và tấm lòng nhân ái, vị tha của tác giả

в†’ Nhб»ќ vГ o 5 cГўu thЖЎ cuб»‘i nб»—i Д‘au của ngЖ°б»ќi trб»џ thГ nh tấm gЖ°ЖЎng phбєЈn chiбєїu mбєЎnh mбєЅ nhất nб»—i Д‘au chung của muГґn ngЖ°б»ќi, muГґn nhГ

Luyện tập

Bài 2 (trang 134 sgk ngữ văn 7 tập 1)

+ Từ việc nói lên nỗi khổ của bản thân, Đỗ Phủ đã tố cáo hiện thực đen tối, cùng đường của xã hội đương thời

+ Trong đau khổ nhà thơ vẫn thể hiện tấm lòng nhân hậu, dành cho người dân nghèo khổ những người chung số phận

Bài soạn “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” số 5

Bài soạn “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” số 1

ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Câu 1 – Trang 133 SGK

Tìm hiểu và phân tích bố cục của bài thơ.

Trả lời:

Bài thơ gồm 4 phần:

– Đoạn 1 (5 dòng đầu): Bối cảnh chung: Gió thu cuộn mất ba lớp tranh nhà tác giả.

– Đoạn 2 (5 dòng kế): Uất ức vì già yếu nên bị bọn trẻ con xô cướp giật mất tranh.

– Đoạn 3 (8 dòng kế tiếp): Nỗi khổ nhà dột, ướt lạnh, con quậy phá, lo lắng vì loạn lạc.

– Đoạn 4 (phần còn lại): Tình cảm cao cả vị tha của tác giả.

Cũng có thể có cách chia bố cục theo kiểu khác: bài thơ có 2 phần: phần đầu 18 câu làm nền và phần sau 5 câu thể hiện ước mơ cao cả, tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Đỗ Phủ. Riêng phần đầu có thể chia thành ba phần nhỏ.

Cách phân chia sau cũng rất hợp lí.

Câu 2 – Trang 134 SGK

Kẻ bảng vào vở và đánh dấu × vào ô mà em cho là hợp lí.

– Phần 1: Miêu tả kết hợp tự sự

Những nỗi khổ nào của nhà thơ đã được đề cập trong bài thơ? Tác giả đã miêu tả và thể hiện sinh động, khúc chiết những nỗi khổ đó như thế nào?

Giây lát, gió lặng, mây tối mực,

Trời thu mịt mịt đêm đen đặc

Mền vải lâu năm lạnh tựa sắt,

Con nằm xấu nết đạp lót nát

Đầu giường nhà dột chẳng chừa đâu

Dày hạt mưa, mưa, mưa chẳng dứt

Từ trải cơn loạn ít ngủ nghê.

Đêm dài ướt át sao cho trót?

– Nỗi khổ vì ngôi nhà bị gió cuốn: cái thì bay sang sông, cái thì treo trên ngọn cây, cái nhào xuống lòng mương tơi tả. Cảnh tượng thật kinh hoàng.

Đỗ Phủ rất nghèo, để có được ngôi nhà tranh ấy phải nhờ vào sự giúp đỡ của những người thân thích và bạn bè nay bị gió cuốn, biết xoay sở làm sao.

– Nổi khổ vì thân tình thế thái: Hình ảnh thật thương tâm, một bên lũ trẻ đua nhau cướp những tấm tranh chạy đi, một bên ông già chống gậy lom khom, miệng gào thét mà chẳng đòi lại được.

– Nỗi khổ phải nằm trong mưa lạnh: Mưa chẳng dứt, nhà bị tốc mái, chăn mền ướt sũng rách nát, còn bị con thơ đạp rách thêm, rét lạnh tựa sắt, cả nhà run cầm cập.- Nỗi khổ vì chiến tranh loạn lạc: Đây mới là nỗi khổ lớn nhất và là nguyên nhân của ba nỗi khổ trên. Vì loạn lạc mà nhà thơ phải phiêu bạt, từ quan, vì loạn lạc mà những đứa trẻ khổ sở túng thiếu phải đi cướp giật của người khác. Và cũng vì loạn lạc mà nhà thơ phải đêm dài ít ngủ, chịu lạnh, chịu đói.

⟹ Cách miêu tả của nhà thơ rất sinh động, cụ thể, đồng thời tính hàm súc cao, chỉ bằng một vài câu ngắn gọn người đọc đã hình dung được cả cảnh tượng.

Câu 4 – Trang 134 SGK

Giả sử không có 5 dòng thơ cuối thì ý nghĩa, giá trị biểu cảm của bài thơ sẽ giảm đi như thế nào? Phân tích tình cảm cao quý của nhà thơ được biểu hiện qua phần cuối.

Giá trị của bài thơ đã tăng lên nhiều lần nhờ ở đoạn kết:

“Ước được nhà rộng muôn ngàn gian,

Cho khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan,

Gió mưa chẳng núng, vững vàng như thạch bản!

Than ôi! Bao giờ nhà ấy sừng sững dựng trước mắt

Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được!”

Để viết những dòng thơ “xuất thần” tuyệt vời này, Đỗ Phủ vượt lên trên nỗi đau khổ, nghèo túng của chính bản thân mình.

Nhà thơ mơ ước có được “nhà rộng muôn ngàn gian” vững chãi trước giông bão gió mưa để che cho những kẻ sĩ nghèo trong khắp thiên hạ. Bao giờ nhìn thấy nhà ấy sừng sững dựng trước mắt thì riêng lều của nhà thơ tan nát, tấm thân cửa nhà thơ dẫu có chết vì giá rét vẫn cam lòng.

Đây đúng là một ước mơ cao cả chan chứa lòng vị tha (vì chỉ nghĩ tới người khác) và tinh thần nhân đạo (ưức mong cho mọi người được hân hoan vui sướng).

Tinh thần tiên ưu, hậu lạc (lo trước, vui sau) của Nho giáo đã thấm sâu vào tâm hồn Đỗ Phủ. Nhà thơ tuy nghèo khổ rất mực nhưng lại không muốn mình sung sướng trước mọi người. Ồng mơ ước cho mọi người được sung sướng trước ông và hơn ông.

Thật là một tư tưởng giàu tính nhân văn đáng ca ngợi.

LUYỆN TẬP

+ Trong đau khổ nhà thơ vẫn thể hiện tấm lòng nhân hậu, dành cho người dân nghèo khổ những người chung số phận.

Bài soạn “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” số 5

Bài soạn “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” số 6

Bài soạn “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” số 5

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả

3. Tác phẩm

Bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá được viết theo lối cổ thể (tương đối tự do về vần, luật, đối). Bằng bút pháp hiện thực sắc sảo, cùng với tinh thần nhân đạo cao cả, bài thơ này đã có những ảnh hưởng khá sâu rộng đến thơ ca Trung Quốc đời sau.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Bài thơ có thể được chia làm 4 phần:

* Những nỗi khổ của nhà thơ được đề cập trong bài thơ:

Câu 4:

* Giả thử không có 5 dòng thơ cuối thì bài thơ vẫn rất hay và vẫn có giá trị biểu cảm cao. Bởi nó vẫn nói lên được nỗi thống khổ thực sự của con người trước sự tàn phá của thiên nhiên, cũng như vẫn nói lên được sự âu lo của nhà thơ trước việc đời, hay nói cách khác là lo lắng về tương lai của lũ trẻ.

Tuy nhiên, nhờ có 5 dòng thơ cuối mà nỗi đau của một người mới trở thành nỗi đau phản chiếu của muôn người, muôn nhà. Hơn thế nữa, nó còn cho thấy tư tưởng nhân văn cao đẹp của nhà thơ khi đặt nỗi đau chung của đất nước, của muôn người lên trên nỗi đau riêng. Có thể nói, ước mơ của nhà thơ tuy viển vông, ảo tưởng nhưng lại rất đẹp, bởi nó bắt nguồn từ khát khao về một cuộc sống bình yên, hạnh phúc và ấm no. Thật là một tư tưởng giàu tính nhân văn đáng ca ngợi.

Bài soạn “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” số 3

Bài soạn “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” số 6

I. Tác giả

– Đỗ Phủ (712 – 770), tự Tử Mĩ, hiệu Thiếu Lăng, là một nhà thơ nổi tiếng của Trung Quốc thời nhà Đường.

– Ông làm quan trong một thời gian rất ngắn nhưng gần như sống trong cảnh đau khổ, bệnh tật.

– Năm 755, tướng An Lộc Sơn nổi dậy chống lại triều đình. Vì không được trọng dụng và cũng muốn tránh khỏi hiểm họa, ông cáo quan về quê ở cùng tây Nam.

– Đỗ Phủ cùng với Lý Bạch là hai nhà thơ vĩ đại và có ảnh hưởng nhất trong lịch sử Trung Quốc.

– Một số sáng tác tiêu biểu như:

II. Tác phẩm

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Năm 760, được bạn bè và người thân giúp đỡ, Đỗ Phủ dựng được một ngôi nhà tranh bên cạnh Cán Hoa ở phía Tây Thành Đô.

– Ông vừa ở chẳng được bao lâu thì căn nhà bị gió phá nát. Chính vì vậy, ông đã sáng tác bài thơ Bài ca nhà tranh bị gió thu phá để thuật lại sự kiện này.

– Đây là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông. Bút pháp hiện thực và tinh thần nhân đạo của bài thơ có ảnh hưởng sâu rộng đến thơ ca Trung Hoa sau này.

2. Bố cục

– Gồm 4 phần:

III. Đọc – hiểu văn bản

1. Khổ thơ thứ nhất: Cảnh nhà tranh bị gió thu phá

– Thời gian: vào tháng 8 – vào mùa thu, có gió rét

– Sự kiện: Gió cuộn mắt ba lớp tranh của ngôi nhà.

– Hình ảnh ngôi nhà tranh khi bị gió cuộn mất:

2. Khổ thơ thứ 2: Cảnh lũ trẻ trong thôn đến ăn cắp tranh

– Hình ảnh những đứa trẻ ăn cắp tranh:

– Hình ảnh nhân vật trữ tình:

3. Khổ thơ thứ 3: Cuộc sống của gia đình trong đêm nhà tranh bị phá

– Hình ảnh thiên nhiên:

– Cuộc sống gia đình:

“Từ trải cơn loạn ít ngủ nghêĐêm dài ướt át sao cho trót?”

Qua đây cho thấy một tấm lòng cao cả, một lòng nghĩ cho thiên hạ của nhà thơ. Ông đã quên đi nỗi khổ của bản thân để nghĩ đến cái khổ của nhân dân, đó là một tấm lòng nhân đạo cao cả.

4. Khổ thơ thứ 4. Mong muốn của nhà thơ về tương lai

– Nhà rộng muôn ngàn gian để có thể che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo. Đây là một ước nguyện thiết thực, phù hợp với tấm lòng của nhà thơ.

– Để ước mơ ấy thành hiện thực, ông tình nguyện một mình chịu cảnh nghèo khổ.

IV. Tổng kết

– Nội dung: Bài thơ đã thể hiện được nỗi khổ của nhà thơ vì căn nhà tranh bị gió thu phá. Đồng thời bộc lộ khát vọng cao cả đó là có một ngôi nhà vững chắc để che chở cho tất cả người nghèo trong thiên hạ.

– Nghệ thuật: Kết hợp nhiều phương thức biểu đạt, hình ảnh chân thực…

V. Trả lời câu hỏi

Câu 1. Tìm hiểu và phân tích bố cục của bài thơ:

– Bài thơ gồm 4 phần:

– Lý do các phần có sự khác nhau về số câu: phụ thuộc vào nội dung, tình cảm nhà nhà thơ muốn trình bày.

Câu 2.

– Phần 2: Tự sự kết hợp biểu cảm

– Phần 3: Miêu tả kết hợp biểu cảm

– Phần 4: Biểu cảm trực tiếp

Câu 3. Những nỗi khổ nào của nhà thơ đã được đề cặp trong bài thơ? Tác giả đã miêu tả và thể hiện sinh động, khúc chiết những nỗi khổ đó như thế nào?

* Nỗi khổ cả về thể chất lẫn tinh thần:

– Vật chất:

Thiên nhiên khắc nghiệt không thương xót con người: mái tranh bị gió thu cuốn đi mất.

* Tác giả đã miêu tả sinh động và khúc triết nỗi khổ đó qua việc khắc họa hình ảnh cuộc sống của con người và thiên nhiên khắc nghiệt.

Câu 4. Giả thử không có năm dòng thơ cuối thì ý nghĩa, giá trị biểu cảm của bài thơ sẽ giảm đi như thế nào? Phân tích tình cảm cao quý của nhà thơ được biểu hiện qua phần cuối.

– Trong năm dòng thơ cuối, nhà thơ mong muốn cho tương lai:

II. Luyện tập

Dùng hai câu để nêu lên ý chính của đoạn văn sau đây bàn về Bài ca nhà tranh bị gió thu phá của Đỗ Phủ:

Qua Bài ca nhà tranh bị gió thu phá, Đỗ Phủ khôn chỉ nêu lên nỗi thống khổ của bản thân mà còn là của “kẻ sĩ nghèo trong thiên hạ”. Qua đó thể hiện nỗi lòng yêu nước thương dân sâu nặng của nhà thơ.

Bài soạn “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” số 4

Bài soạn “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” số 3

A. KIẾN THỨC TRỌNG TÂM

B. BÀI TẬP VÀ HƯỚNG DẪN GIẢI

Câu 1: (Trang 133 – SGK Ngữ văn 7 tập 1) Tìm hiểu và phân tích bố cục của bài thơ.

Bài soạn “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” số 4

Bài soạn “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” số 2

Bài soạn “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” số 4

I. VỀ TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

1. Tác giả.

Đỗ Phủ (712 – 770) là nhà thơ nổi tiếng đời Đường Trung Quốc. Đỗ Phủ quê ở tỉnh Hà Nam. Ông từng là quan trong một thời gian ngắn nhưng gần như suốt đời ông phải sống trong đau khổ và bệnh tật. Sống phải thời loạn lạc, Đỗ Phủ đã phải phiêu dạt đi rất nhiều nơi, rồi ông được bạn bè, người thân giúp đỡ dựng được ngôi nhà bên cạnh khe Cán Hoa (phía tây thành đô). Nhưng buồn thay, vừa chuyển đến ngôi nhà mới được mấy tháng thì căn nhà đã bị gió phá nát. Bài thơ này ra đời trong hoàn cảnh ấy.

2. Tác phẩm

Đây là bài thơ được viết theo lối cổ thể (tương đối tự do về vần, luật, đối). Bằng bút pháp hiện thực sắc sảo cũng như tinh thần nhân đạo cao cả, bài thơ đã có ảnh hưởng khá sâu rộng đến thơ ca trung Quốc thời sau.

II. KIẾN THỨC CƠ BẢN

Câu 1. a) Bài thơ gồm bốn phần:

– Phần 1 (khổ thứ nhất): tác giả tả lại cảnh gió thu cướp mất lớp tranh của ngôi nhà.

– Phần 2 (khổ 2): kể lại cảnh trẻ con lấy nốt lớp tranh đã bị gió thổi tung.

– Phần 3 (khổ 3): tả lại nỗi khổ của gia đình trong đêm mưa.

– Phần 4 (khổ 4): ước mơ cao cả của nhà thơ.

b) Bài thơ có ba đoạn mỗi đoạn chứa năm câu (đây là hiện tượng hiếm thấy trong thơ ca cổ Trung Quốc, bởi thường số câu trong mỗi đoạn là nhịp chẵn). Riêng khổ ba dài hơn, gồm 8 câu, diễn tả nổi khổ cực vô hạn của nhà thơ. Đến khổ 4, các câu trong đoạn lại đều là những câu dài hơn các phần khác, có lẽ để diễn đạt những tâm tư, tình cảm và khát vọng cao đẹp và hũng vĩ của nhà thơ.

Việc bố trí sắp xếp các câu, các đoạn như vừa phân tích ở trên chứng tỏ Đỗ Phủ là người không quá câu về hình thức trong sáng tác. Ông có thể chủ động thay đổi số câu, số chữ, cách gieo vần,… cốt là để phục vụ tốt nội dung diễn đạt.

Câu 2. Các phương thức biểu đạt trong từng đoạn thơ:

Miêu tả

Tự sự

Biểu cảm trực tiếp: Phần 4

Miêu tả- tự sự: Phần 1

Miêu tả- biểu cảm: Phần 3

Tự sự – Biểu cảm: Phần 2

Tự sự- miêu tả- biểu cảm

– Ở phần thứ nhất, đằng sau sự mất mát về vật chất là nỗi đớn đau về mặt tinh thần (khi tác giả chứng kiến cảnh trẻ con cướp những tấm tranh – cuộc sống cùng cực quá đã làm thay đổi tính cách trẻ thơ).3. Nỗi khổ của nhà thơ được đề cập trong phần hai, đặc biệt là trong phần ba của bài thơ. Nó gồm cả nỗi khổ về vật chất và tinh thần, là nỗi khổ của cá nhân nhưng cũng là nỗi khổ của cả một xã hội, một thời đại.

– Ở phần ba, nỗi khổ của cả gia đình trong đêm mưa được nhà thơ miêu tả một cách chi tiết và cặn kẽ. Đêm tối mù mịt, nhà dột, chăn nát,… cơm mưa kéo dài suốt đêm không dứt càng làm cho nỗi khổ thêm chồng chất.

Bao nhiêu nỗi khổ ào ạt đến với nhà thơ nhưng ở trong hoàn cảnh ấy, sự lo lắng của nhà thơ không phải chỉ hướng đến gia đình, người thi sĩ còn trăn trở về cuộc đời, về thời thế nhiều hơn.

Câu 4. Giả sử nếu không có phần thơ cuối, chúng ta vẫn có một bài thơ hay, có giá trị biểu cảm cao. Bởi nó vẫn nói lên được nỗi thống khổ thực sự của con người trước sự tàn phá của thiên nhiên, cũng như vẫn nói lên được sự âu lo của nhà thơ trước việc đời (lo lắng về nhân cách của lũ trẻ).

Tuy nhiên nhờ có năm dòng thơ cuối mà nỗi đau của một người mới trở thành tấm gương phản chiếu nỗi đau của muôn người, muôn nhà. Hơn thế, nó còn cho thấy tư tưởng nhân văn cao đẹp của nhà thơ (khi đặt nỗi đau chung của đất nước, của muôn người lên trên nỗi đau riêng). Khổ thơ cuối chứa chan lòng vị tha nhân đạo. Ước mơ của nhà thơ tuy ảo tưởng nhưng rất đẹp, bởi có bắt nguồn từ khát khao về một cuộc sống bình yên, hạnh phúc, ấm no.

III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

1. Cách đọc

Với ba đoạn thơ đầu, tác giả chủ yếu sử dụng phương thức tự sự và miêu tả, khi đọc cần chú ý những chi tiết miêu tả nỗi khổ: tranh bị gió cuốn, trẻ cướp mất tranh, cả nhà ngủ trong cảnh giột nát… Đến khổ thơ cuối đọc cao giọng hơn, thể hiện được khát vọng cao cả của tác giả.

2. Có thể tóm tắt đoạn văn như sau:

Bài ca nhà tranh bị gió thu phá thể hiện nỗi thống khổ của bản thân Đỗ Phủ, đồng thời cũng là nỗi khổ của bao kẻ sĩ nghèo trong thiên hạ. Có lẽ vì thế, nó sẽ mãi còn đủ sức lay động niềm trắc ẩn của độc giả cho tới mai sau.

Đăng bởi: Bùi Kiên

Từ khoá: 6 Bài soạn “Bài ca nhà tranh bị gió thu phá” của Đỗ Phủ lớp 7 hay nhất

Cập nhật thông tin chi tiết về 6 Bài Soạn “Cách Làm Văn Lập Luận Chứng Minh” Lớp 7 Hay Nhất trên website Pwqy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!