Xu Hướng 2/2024 # Văn Mẫu Lớp 6: Tóm Tắt Truyện Buổi Học Cuối Cùng Những Bài Văn Hay Lớp 6 # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Văn Mẫu Lớp 6: Tóm Tắt Truyện Buổi Học Cuối Cùng Những Bài Văn Hay Lớp 6 được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Pwqy.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Truyện ngắn Buổi học cuối cùng được An-phông-xơ Đô-đê viết trong hoàn cảnh Pháp thua trận trong trận chiến Pháp – Phổ (1870 – 1871). Nước Pháp buộc phải chia hai vùng An-dát và Lo-ren cho quân Phổ, đồng nghĩa với việc các trường học ở hai nơi này bắt buộc phải học tiếng Đức. Câu chuyện cảm động đã tái hiện lại không khí buổi học tiếng Pháp cuối cùng với nhân vật chính là cậu bé Phrăng và thầy giáo Ha-men. Phrăng là một cậu học trò lười học, ham chơi, cậu đi học muộn và định trốn học để rong chơi nhưng sau đó vẫn quyết định chạy đến trường. Khi vào lớp học, cậu đã nhận thấy không khí lớp học khác hẳn mọi lần. Phrăng ngạc nhiên khi dân làng tập trung đầy đủ tại lớp, từ người già đến người trẻ, càng ngạc nhiên hơn nữa khi thầy Ha-men không mắng hay phạt cậu vì lỗi đến lớp muộn như mọi hôm mà ngược lại, vô cùng dịu dàng. Thầy cũng như mọi người đều ăn mặc trang trọng, đẹp đẽ trong không khí vô cùng trang nghiêm, vẻ mặt ai nấy đều buồn rầu. Khi buổi học bắt đầu, thầy Ha-men đã thông báo với mọi người đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng. Cậu học trò Phrăng bấy giờ đã vỡ lẽ ra tất cả song đã quá muộn. Cậu thậm chí đọc ấp úng tiếng mẹ đẻ, không thuộc quy tắc về phân từ nhưng thầy Ha-men không trách phạt mà chỉ giảng giải những lời lẽ hết sức ngắn gọn, sâu sắc về tiếng mẹ đẻ. Điều này càng khiến Phrăng xấu hổ, hối hận và dằn vặt bản thân khi đã không chăm chú học hành từ ban đầu. Thầy Ha-men say sưa giảng về tiếng Pháp, rằng “Khi một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ được tiếng nói của mình thì chẳng khác gì nằm được chìa khóa chốn lao tù”. Mọi người chăm chú lắng nghe và cậu bé Phrăng kinh ngạc vì mình hiểu bài đến vậy. Kết thúc buổi học, thầy Ha-men nghẹn ngào không nói hết câu, cố gắng viết thật to, dằn mạnh hết sức dòng chữ trên bảng “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM!” rồi ra hiệu kết thúc buổi học.

Phrăng đi học muộn và định trốn học nhưng rồi cậu vẫn đến trường dù đã trễ giờ. Cậu đi qua trụ sở xã, thấy có nhiều người đứng trước bảng cáo thị nhưng không để ý. Dù đến lớp muộn nhưng thầy Ha-men lại không trách mắng khiến cậu rất ngạc nhiên. Thầy Ha-men đã thông báo cho cả lớp biết đó là bài học tiếng Pháp cuối cùng bởi quân Phổ đã ra lệnh chỉ được dạy tiếng Đức ở các trường trong vùng An-dát và Lo-ren. Phrăng choáng váng, ân hận vì mình đã không chịu học hành chăm chỉ. Trong buổi học cuối cùng đó, thầy Ha-men đã nói với tất cả mọi người trong lớp về tiếng Pháp, khuyên mọi người giữ lấy nó bởi “Một dân tộc rơi vào vòng nô lệ, chừng nào họ vẫn giữ vững tiếng nói của mình thì chẳng khác nào nắm được chìa khoá chốn lao tù”. Phrăng và cả lớp chăm chú lắng nghe lời giảng của thầy giáo. Khi đồng hồ nhà thờ điểm mười hai giờ, tiếng kèn của bọn lính Phổ vang lên. Thầy Ha-men dùng hết sức viết lên bảng bốn chữ “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM” , rồi kết thúc buổi học.

Phrăng là một cậu bé ham chơi. Một lần, trên đường tới trường cậu đã định trốn học. Nhưng rồi, Phrăng đã dứt ra được để chạy vội đến trường. Khi đến nơi, cậu cảm thấy không khí lớp học thật khác lạ, không ồn ào, hỗn độn như mọi khi, có cả những người dân làng đến tham dự, thậm chí thầy Ha-men không hề tức giận khi Phrăng đi học muộn. Đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng. Phrăng chăm chú lắng nghe bài giảng, cậu cảm thấy đau đớn và hối hận vì đã không chịu học hành chăm chỉ. Đồng hồ điểm mười hai giờ, thầy Ha-men đứng trên bục không nói nên lời. Rồi thầy quay về phía bảng nhưng vẫn cố viết dòng chữ “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM” thật to lên bảng.

Buổi sáng hôm ấy, cậu bé Phrăng đến lớp hơi muộn và ngạc nhiên khi thấy lớp học có vẻ khác thường. Cậu thực sự choáng váng khi nghe thầy Ha-men nói đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng. Cậu thấy tiếc nuối và ân hận vì bấy lâu nay đã bỏ phí thời gian, đã trốn học đi chơi và ngay sáng nay cậu cũng phải đấu tranh mãi mới quyết định đến trường. Trong buổi học cuối cùng đó không khí thật trang nghiêm. Thầy Ha-men đã nói những điều sâu sắc về tiếng Pháp, đã giảng bài say sưa cho đến khi đồng hồ điểm mười hai giờ. Kết thúc buổi học, thầy nghẹn ngào không nói nên lời, thầy cố viết thật to lên bảng: “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM”.

Hôm ấy, Phrăng đi học muộn.Khi bước vào lớp học, cậu cảm thấy không khí hôm nay rất lạ. Trong lớp còn có sự xuất hiện của ông xã trưởng, cụ Hô-de và một số những người khác điều này làm Phrăng ngạc nhiên. Thầy Ha-men thông báo rằng đây sẽ là buổi học cuối cùng tiếng Pháp cuối cùng. Mọi người đều chăm chú lắng nghe. Đồng hồ báo mười hai giờ đã điểm, buổi học kết thúc. Thầy Ha-men quay về phía bảng, cầm một hòn phấn và cố gắng viết thật lớn, thật mạnh lên tấm bảng dòng chữ “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM”.

Sáng hôm ấy, cậu bé Phrăng đến lớp muộn, ngạc nhiên khi lớp học trở nên yên lặng khác thường. Thầy Ha-men nói với cả lớp đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng. Cậu thấy tiếc nuối và ân hận vì bấy lâu nay đã bỏ phí thời gian, đã trốn học đi chơi và ngay sáng nay cậu cũng phải đấu tranh mãi mới quyết định đến trường. Buổi học diễn ra thật trang nghiêm từ tiết tập đọc, tập viết rồi tiết Lịch sử. Thầy Ha-men đã nói những điều sâu sắc về tiếng Pháp. Khi đồng hồ điểm mười hai giờ cũng là lúc buổi học kết thúc. Thầy Ha-men xúc động không nói nên lời. Cuối cùng, thầy cố viết thật to lên bảng: “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM”.

“Buổi học cuối cùng” lấy bối cảnh từ một biến cố lịch sử sau cuộc chiến tranh Pháp – Phổ vào năm 1870 – 1871. Nước Pháp thua trận, hai vùng An-dát và Lo-ren giáp biên giới và Phổ bị nhập vào nước Phổ. Cho nên các trường học ở hai vùng này bị buộc học bằng tiếng Đức. Vào buổi sáng hôm đấy, cậu bé Phrăng đến lớp muộn, ngạc nhiên khi lớp học trở nên yên ắng khác thường. Thầy Ha-men nói với cả lớp đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng. Cậu thấy tiếc nuối và ân hận vì bấy lâu nay đã bỏ phí thời gian, đã trốn học đi chơi và ngay sáng nay cậu cũng phải đấu tranh mãi mới quyết định đến trường. Buổi học diễn ra thật trang nghiêm từ tiết tập đọc, tập viết rồi tiết Lịch sử. Thầy Ha-men đã nói những điều sâu sắc về tiếng Pháp. Bỗng đồng hồ nhà thờ điểm mười hai giờ, rồi đến chuông cầu nguyện buổi trưa. Cùng lúc đó, tiếng kèn của bọn lính Phổ đi tập về vang lên ngoài cửa sổ. Thầy Ha-men xúc động không nói nên lời. Cuối cùng, bèn quay về phía bảng, cầm một hòn phấn và dằn mạnh hết sức, cố viết thật to: “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM”.

Advertisement

Buổi học cuối cùng là tác phẩm nổi tiếng của An-phông-xơ Đô-đê. Nội dung chính kể về buổi học Pháp văn cuối cùng. Sáng hôm đó, cậu bé Phrăng đến lớp muộn, ngạc nhiên khi lớp học trở nên yên ắng khác thường. Thầy Ha-men nói với cả lớp đây là buổi học tiếng Pháp cuối cùng. Cậu thấy tiếc nuối và ân hận vì bấy lâu nay đã bỏ phí thời gian, đã trốn học đi chơi và ngay sáng nay cậu cũng phải đấu tranh mãi mới quyết định đến trường. Buổi học diễn ra thật trang nghiêm từ tiết tập đọc, tập viết rồi tiết Lịch sử. Thầy Ha-men đã nói những điều sâu sắc về tiếng Pháp. Đồng hồ điểm mười hai giờ, thầy đứng dậy trên bục, người tái nhợt, không nói nên lời. Cuối cùng, thầy quay về phía bảng cầm một viên phấn và cố viết thật to lên bảng: “NƯỚC PHÁP MUÔN NĂM”.

Văn Mẫu Lớp 6: Tóm Tắt Truyện Cây Khế (5 Mẫu) Những Bài Văn Mẫu Lớp 6

Truyện cổ tích Cây khế được tìm hiểu trong chương trình môn Ngữ văn lớp 6. Hôm nay, chúng tôi muốn cung cấp tài liệu Bài văn mẫu lớp 6: Tóm tắt truyện Cây khế, vô cùng hữu ích.

Tóm tắt truyện Cây khế

Mong rằng với 5 đoạn văn mẫu sau đây, sẽ giúp cho các bạn học sinh lớp 6 có thêm ý tưởng hoàn thiện bài viết của mình.

Ngày xửa ngày xưa, có hai anh em nhà kia. Cha mẹ mất sớm, cả hai chịu khó làm lụng nên cũng đủ ăn. Từ ngày lấy vợ, người anh đâm ra lười biếng. Còn vợ chồng người em vẫn chăm chỉ làm ăn. Sợ em tranh công, liền bàn với vợ cho em ra ở riêng. Người anh chia cho em một gian nhà lụp xụp, ở trước cửa có một cây khế. Mỗi ngày, vợ chồng người em chăm sóc cho cây khế trở nên tươi tốt. Đến mùa, cây khế ra rất nhiều quả. Một hôm, có con chim lạ đến ăn khế chín. Suốt một tháng trời, ngày nào chim cũng đến. Người vợ lo lắng, cầu xin chim đừng ăn khế nữa. Chim đáp lại: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng”. Vợ chồng người em làm theo lời chim. Sáng hôm sau, chim đến đưa người em ra đảo. Trên đảo có biết bao nhiêu là châu báu. Người em chỉ dám nhặt ít vàng, kim cương ở ngoài rồi ra hiệu cho chim trở về. Từ đó, cuộc sống của vợ chồng người em trở nên sung túc hơn. Người anh nghe chuyện liền đến dò hỏi. Nghe em kể hết đầu đuôi, người anh liền gạ em đổi túp lều và cây khế với toàn bộ gia sản của mình. Từ lúc đó, vợ chồng người anh chỉ ăn và chờ chim đến. Mùa khế chín, chim lại đến ăn và đúng như lời người em kể. Nhưng người anh bàn với vợ, may cái túi to gấp ba lần. Chim thần đưa người anh đến đảo. Người anh cố nhặt vàng và kim cương cho thật đầy. Trên đường về, vì quá nặng lại gặp gió lớn, chim đâm bổ xuống biển. Người anh bị cuốn đi rất xa cùng với tay nải và châu báu đầy người. Chim chỉ bị ướt lông cánh lại vùng lên bay về núi rừng.

Xưa có hai anh em sống cùng nhau. Cha mẹ mất sớm, họ làm lụng chăm chỉ nên cũng đủ ăn. Từ ngày lấy vợ, người anh trở nên lười biếng. Một hôm, anh ta gọi em trai đến để chia gia sản. Vợ chồng người anh tham lam giành hết tài sản, chỉ chừa lại cho người em một gian nhà lụp xúc, trước nhà có cây khế. Vợ chồng người em chăm chỉ làm ăn và chăm sóc cây khế chu đáo. Đến mùa khế ra rất nhiều quả. Bỗng một hôm có con chim lạ đến ăn khế. Chim thần liền nói với vợ chồng người em: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng”. Sáng hôm sau, chim đưa người em ra đảo lấy vàng và người em trở nên giàu có nhất vùng. Người anh hay tin, đến dò hỏi và gạ em đổi cả gia tài của mình để lấy mảnh vườn có cây khế. Đến mùa khế chín, chim đại bàng lại đến và cũng ngỏ ý sẽ trả ơn. Người anh vì tham lam nên đã may túi to để đựng được nhiều vàng. Trên đường về vì vàng bạc quá nhiều, vì quá nặng lại gặp gió lớn, chim đâm bổ xuống biển. Người anh bị sóng cuốn trôi cùng với tay nải và châu báu đầu người. Con chim thần chỉ bị ướt lông, ướt cánh, chim vùng lên bay về lại núi rừng.

Ngày xửa ngày xưa, ở một nhà kia có hai anh em, cha mẹ mất sớm. Hai anh em chăm lo làm lụng nên cũng đủ ăn. Nhưng từ khi có vợ, người anh đâm ra lười biếng. Hai vợ chồng người em cố gắng làm lụng. Thấy thế, người anh sợ em tranh công, bàn với vợ cho vợ chồng người em ra ở riêng. Người anh chia cho em một gian nhà lụp xụp, ở trước cửa có một cây khế ngọt. Quanh năm vợ chồng người em chăm sóc cho cây khế tươi tốt. Đến mùa khế ra rất nhiều quả. Bỗng một hôm có con chim lạ đến ăn khế chín. Ròng rã một tháng trời, ngày nào chim cũng đến ăn. Người vợ đợi chim ăn xong liền xin nó đừng ăn nữa. Chim thần đáp lại: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng”. Hai vợ chồng người em làm theo lời chim. Hôm sau, chim đưa người em ra đảo lấy vàng và trở về. Từ đó, người em trở nên giàu có. Hai vợ chồng người anh vội đến hỏi chuyện. Nghe em kể hết đầu đuôi, người anh liền gạ đổi hết gia sản để lấy túp lều và cây khế. Đến mùa khế chín, chim lại đến ăn và trả lời như người em kể. Hai vợ chồng người anh tham lam may cái túi to gấp ba lần. Đến nơi, người anh cố nhặt vàng và kim cương cho thật đầy. Trên đường về, vì quá nặng lại gặp gió lớn, chim đâm bổ xuống biển. Người anh bị ngọn sóng cuốn đi với tay nải vàng và châu báu đầy người, còn chim thì lại vùng lên bay về núi rừng.

Ngày xưa, nhà kia có hai anh em. Cha mẹ mất từ sớm. Hai anh em chăm chỉ làm lụng nên cũng đủ ăn. Nhưng người anh từ lúc có vợ trở nên lười biếng. Còn vợ chồng người em vẫn làm lụng. Người anh sợ em tranh công, bàn với vợ cho người em ra ở riêng. Người anh chia cho em một gian nhà lụp xụp, ở trước cửa có một cây khế ngọt. Vợ chồng người em chăm sóc cho cây khế tươi tốt. Đến mùa khế ra rất nhiều quả. Một hôm, một con chim lạ đến ăn khế chín. Suốt một tháng trời, ngày nào chim cũng đến ăn. Người vợ đợi chim thần đến thì cầu xin nó đừng ăn nữa. Chim thần đáp lại: “Ăn một quả, trả cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng”. Vợ chồng người em làm theo lời chim thần. Sáng sớm hôm sau, chim thần đến đưa người em ra đảo lấy vàng và trở về. Người em trở nên giàu có. Vợ chồng người anh biết chuyện vội đến hỏi thăm. Nghe em kể hết đầu đuôi, người anh liền gạ đổi hết gia sản để lấy túp lều và cây khế. Mùa khế chín, chim lại đến ăn và trả lời như người em kể. Người anh may cái túi to gấp ba lần. Chim thần đưa người anh đến đảo. Người anh cố nhặt vàng và kim cương cho thật đầy. Trên đường về, vì quá nặng lại gặp gió lớn, chim đâm bổ xuống biển. Còn người anh bị cuốn đi rất xa, còn chim thì lại vùng lên bay về núi rừng.

Advertisement

Ở làng nọ, có hai anh em. Sau khi bố mẹ qua đời, họ chăm chỉ làm lụng thì cũng đủ ăn. Đến khi người anh lấy vợ thì ngày càng lười biếng. Người anh tìm cách cho vợ chồng người em ra ở riêng, chỉ cho một căn nhà lụp xụp trước cửa có một cây khế. Vợ chồng người em chịu khó chăm sóc, nên cây khế ngày càng sai quả. Một hôm, một con chim lạ bay tới ăn khế suốt một tháng trời. Người em nói với chim thần thì chim lạ mới nói lại rằng: “Ăn một quả trả cục vàng may túi ba gang mang đi mà đựng”. Hôm sau như lời hứa chim đến đón người em tới một hòn đảo có rất nhiều vàng bạc, châu báu. Người em xuống lấy vàng và chỉ lấy vừa đầy túi ba gang rồi lên lưng chim trở về. Người em về nhà dùng số vàng bạc lấy được mang đi đổi lấy lúa thóc để giúp đỡ cho người dân ở trong làng. Thấy người em bỗng nhiên trở nên giàu có, người anh sang hỏi, biết được chuyện liền âm mưu sang đòi đổi nhà lấy cây khế. Đến mùa, cây khế lại sai quả, chim lạ lại đến ăn, người anh cũng cố ý than thở với chim. Mấy hôm sau chim đến đón người anh đi đến hòn đảo vàng bạc, vốn bản tính tham lam nên người anh lấy rất nhiều vàng bạc. Trên đường về vì vàng bạc quá nhiều, vì quá nặng lại gặp gió lớn, chim đâm bổ xuống biển. Người anh bị sóng cuốn trôi, mất hết vàng bạc.

Văn Mẫu Lớp 6: Tóm Tắt Bài Thánh Gióng (13 Mẫu) Những Bài Văn Mẫu Lớp 6 Hay Nhất

Truyền thuyết Thánh Gióng đã vô cùng nổi tiếng và quen thuộc đối với người dân Việt Nam. Tác phẩm được tìm hiểu trong chương trình môn Ngữ Văn lớp 6.

Tóm tắt truyền thuyết Thánh Gióng

Hôm nay, chúng tôi xin giới thiệu Bài văn mẫu lớp 6: Tóm tắt truyện Thánh Gióng, bao gồm 13 mẫu, rất hữu ích để giúp học sinh năm vững nội dung của tác phẩm này. Mời tham khảo nội dung chi tiết ngay sau đây.

Thời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng, có vợ chồng rất chăm chỉ làm ăn lại hiền lành, tốt bụng. Một lần, người vợ ra đồng, thấy một vết chân rất to hơn vết chân người thường, liền ướm thử. Không ngờ về nhà bà thụ thai, rồi sau mười hai tháng thai nghén, bà sinh ra một em bé. Hai vợ chồng mừng lắm, nhưng chú bé lên ba tuổi vẫn chưa biết nói biết cười. Lúc bấy giờ, giặc Ân đến xâm lược nước ta. Nhà vua sai người đi khắp nơi để tìm người tài. Đến làng Gióng, khi nghe thấy tiếng sứ giả, cậu bé bỗng cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây, con xin thưa chuyện”. Sứ giả vào, cậu liền xin với sứ giả về tâu với vua sắm cho một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt với lời hứa sẽ đánh tan lũ giặc này. Sau hôm gặp sứ giả, cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo mặc mấy cũng không vừa. Hai vợ chồng làm ra bao nhiêu cũng không đủ, phải nhờ đến dân làng. Bà con vui lòng góp gạo thóc để nuôi chú bé, ai cũng mong chú giết giặc cứu nước. Giặc đến, vừa lúc sứ giả mang ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt đến, cậu bé vươn vai biến thành tráng sĩ đánh giặc. Giặc chết như ngả rạ. Bỗng roi sắt gãy, tráng sĩ liền nhổ bụi tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ, đám tàn quân giẫm đạp lên nhau mà trốn thoát. Sau đó, tráng sĩ một mình cưỡi ngựa lên đỉnh núi, cởi bỏ áo giáp rồi bay về trời. Vua cho lập đền thờ để tưởng nhớ công ơn, còn phong làm Phù Đổng Thiên Vương. Hiện nay, vẫn còn đền thờ làng Phù Đổng, tục gọi là làng Gióng. Tương truyền, những bụi tre đằng ngà ở huyện Gia Bình vì ngựa phun lửa bị cháy mới ngả màu vàng óng, còn những vết chân ngựa nay thành những ao hồ liên tiếp. Người ta còn bảo khi ngựa thét ra lửa đã thiêu cháy một làng, về sau gọi là làng Cháy.

Vào đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức nhưng mãi vẫn chưa có nổi một mụn con. Một hôm, bà vợ đi ra đồng trông thấy một vết chân rất to liền đặt bàn chân mình lên ướm thử, không ngờ về nhà liền mang thai. Mười hai tháng sau, bà sinh ra được một cậu con trai. Cậu bé lên ba tuổi mà vẫn không biết nói biết cười. Lúc bấy giờ, giặc Ân đến xâm lược nước ta, nhà vua muốn tìm người tài đánh giặc cứu nước. Sứ giả đi đến làng Gióng thì kì lạ thay, cậu bé bỗng cất tiếng nói: “Mẹ mời sứ giả vào đây”. Cậu bảo sứ giả về tâu với vua sắm cho một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt để đánh giặc. Từ sau hôm đó, cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo mặc mấy cũng không vừa. Giặc đến, vừa lúc sứ giả mang ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt đến, cậu bé vươn vai biến thành tráng sĩ đánh tan quân giặc. Tráng sĩ đánh giặc xong cởi bỏ áo giáp sắt, cưỡi ngựa bay về trời. Vua nhớ công ơn tôn là Phù Đổng Thiên Vương và cho lập đền thờ tại quê nhà.

Truyền thuyết “Thánh Gióng” kể về một cậu bé làng Gióng. Vào đời Hùng Vương thứ sáu, có hai vợ chồng ăn ở hiền lành mà vẫn chưa có được một mụn con. Một lần, bà vợ đi ra đồng thì nhìn thấy một vết chân rất to liền ướm thử, về nhà liền mang thai. Mười hai tháng sau, bà sinh ra một câu con trai. Cậu bé tuy đã lên ba tuổi mà vẫn không biết nói, biết cười. Ít lâu sau, giặc Ân đến xâm lược nước ta. Nhà vua muốn tìm người tài đánh giặc cứu nước. Sứ giả đi đến làng Gióng thì kì lạ thay, cậu bé bỗng cất tiếng nói: “Mẹ mời sứ giả vào đây”. Cậu yêu cầu sứ giả về tâu với vua sắm cho một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt để đánh giặc. Từ sau hôm đó, cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo mặc mấy cũng không vừa. Giặc đến nơi cũng vừa lúc sứ giả mang ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt đến, cậu bé vươn vai biến thành tráng sĩ đánh tan quân giặc. Tráng sĩ đánh giặc xong cởi bỏ áo giáp sắt, cưỡi ngựa bay lên trời. Vua nhớ công ơn tôn là Phù Đổng Thiên Vương và cho lập đền thờ tại quê nhà.

Thời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng nọ dù ăn ở hiền lành nhưng vẫn chưa có con. Một hôm, người vợ ra đồng nhìn thấy một vết chân thì ướm thử. Về nhà, bà có mang và sinh ra một câu bé. Lên ba tuổi mà cậu vẫn chưa biết nói. Lúc bấy giờ, giặc Ân đến xâm lược, vua cho đi khắp nước tìm người tài. Đến làng Gióng thì kì lạ thay, cậu bé bỗng cất tiếng nói bảo mẹ mời sứ giả vào nhà. Cậu yêu cầu sứ giả về tâu vua sắm cho cậu một con ngựa sắt, một bộ áo giáp sắt, một cái roi sắt với lời hứa sẽ đánh tan quân giặc. Giặc vừa đến chân núi cũng là lúc sứ giả mang ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt đến. Cậu bỗng vươn vai trở thành tráng sĩ và đánh bại giặc Ân. Vua Hùng nhớ công ơn liền phong là Phù Đổng Thiên Vương.

Ở một làng nọ, có hai vợ chồng ông hiền lành mà vẫn chưa có nổi một mụn con. Một lần nọ, người vợ ra đồng, nhìn thấy một vết chân rất to liền ướm thử, về nhà liền mang thai. Mười hai tháng sau, bà sinh ra một câu con trai. Cậu bé tuy đã lên ba tuổi mà vẫn không biết nói, biết cười. Ít lâu sau, giặc Ân đến xâm lược nước ta. Nhà vua muốn tìm người tài đánh giặc cứu nước. Sứ giả đi đến làng Gióng thì kì lạ thay, cậu bé bỗng cất tiếng nói: “Mẹ mời sứ giả vào đây”. Cậu yêu cầu sứ giả về tâu với vua sắm cho một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt để đánh giặc. Từ sau hôm đó, cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo mặc mấy cũng không vừa. Giặc đến nơi cũng vừa lúc sứ giả mang ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt đến, cậu bé vươn vai biến thành tráng sĩ đánh tan quân giặc. Tráng sĩ đánh giặc xong cởi bỏ áo giáp sắt, cưỡi ngựa bay lên trời. Để tưởng nhớ công ơn của Thánh Gióng, vua cho lập đền thờ ở quê nhà và phong là Phù Đổng Thiên Vương.

Đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng nọ. Tuy làm ăn chăm chỉ, lại có tiếng là phúc đức nhưng mãi không có con. Một hôm, bà vợ ra đồng ướm chân vào một vết chân lạ, về nhà bà thụ thai. Bà mang thai mười hai tháng mới sinh ra một cậu bé. Nhưng kì lạ thay, cậu bé lên ba mà vẫn không biết nói biết cười. Bấy giờ, giặc Ân tràn vào bờ cõi nước ta. Thế giặc rất mạnh. Vua Hùng bèn sai người đi tìm người tài giúp nước. Khi nghe tiếng của sứ giả, cậu bé bỗng cất tiếng nói xin được đánh giặc. Từ đấy cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng chẳng no. Cậu bé vươn vai thành tráng sĩ, rồi mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt và cầm roi sắt xông ra diệt giặc. Roi sắt gãy, Gióng bèn nhổ cả những bụi tre bên đường để quét sạch giặc thù. Khi giặc tan, Gióng một mình một ngựa lên đỉnh núi Sóc Sơn rồi bay thẳng về trời. Nhân dân lập đền thờ để tưởng nhớ công ơn. Ngày nay vẫn còn lại những dấu tích xưa.

Thời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng chăm chỉ nhưng vẫn chưa có con. Một lần nọ, người vợ đi ra đồng trông thấy một vết chân rất to liền đặt bàn chân mình lên ướm thử, về nhà thì mang thai. Mười hai tháng sau, bà sinh ra được một cậu con trai. Lên ba tuổi nhưng cậu bé vẫn không biết nói biết cười. Giặc Ân đến xâm lược nước ta. Nhà vua sai người đi khắp nơi để tìm người tài. Nghe thấy tiếng sứ giả, cậu bé bỗng cất tiếng nói: “Mẹ mời sứ giả vào đây”. Cậu nói với sứ giả về tâu với vua sắm cho một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt để đánh giặc. Từ sau hôm đó, cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo mặc mấy cũng không vừa. Giặc đến, vừa lúc sứ giả mang ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt đến, cậu bé vươn vai biến thành tráng sĩ đánh tan quân giặc. Tráng sĩ một mình cưỡi ngựa lên đỉnh núi, cởi bỏ áo giáp rồi bay về trời. Vua Hùng tưởng nhớ công ơn nên đã cho lập đền thờ. Ngày nay, chúng ta thấy vẫn còn những dấu vết xưa.

Vào thời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão hiền lành, phúc đức nhưng vẫn chưa có một mụn con. Một hôm, bà vợ ra đồng ướm chân vào một vết chân lạ, về nhà thì mang thai. Mười hai tháng mới sinh ra một cậu bé khôi ngôi, tuấn tú. Cậu bé lên ba mà vẫn không biết nói biết cười. Bấy giờ, giặc Ân sang xâm lược nước ta. Vua Hùng sai sứ giả đi tìm người tài giúp nước. Đến làng Gióng, cậu bé nghe thấy tiếng của sứ giả thì cất tiếng nói xin được đánh giặc. Kể từ đó, cậu bé bỗng lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng chẳng no, áo mặc mấy cũng không vừa. Dân làng phải góp công nuôi lớn. Giặc đánh đến nơi, cậu bé bỗng vươn vai thành tráng sĩ. Tráng sĩ mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt và cầm roi sắt xông ra diệt giặc. Roi sắt gãy, Gióng bèn nhổ cả những bụi tre bên đường để quét sạch giặc thù. Giặc tan, tráng sĩ một mình một ngựa lên đỉnh núi Sóc Sơn rồi bay thẳng về trời. Nhân dân lập đền thờ để tưởng nhớ công ơn.

Đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng nông dân. Họ chăm chỉ, hiền lành mà vẫn chưa có con. Một lần, người vợ ra đồng, thấy một vết chân lạ liền ướm thử. Về nhà, bà mang thai. Mười hai tháng sau mới sinh ra một cậu bé, nhưng lên ba tuổi mà cậu vẫn chưa biết nói biết cười. Bấy giờ, giặc Ân sang xâm lược nước ta. Nhà vua muốn tìm người tài ra giúp nước. Đến làng Gióng, cậu bé nghe tiếng của sứ giả liền nói với mẹ mời sứ giả vào. Cậu nói với sứ giả về tâu với vua sắm cho một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt để đánh giặc. Kể từ hôm đó, Gióng lớn nhanh như thổi. Cơm ăn không no, áo mặc chẳng vừa. Dân làng phải góp gạo nuôi cậu. Giặc đánh đến nơi, cũng là lúc nhà vua cho người mang áo sắt, roi sắt, ngựa sắt tới. Gióng bỗng chốc vươn vai thành tráng sĩ. Tráng sĩ đánh tan quân giặc, sau đó một mình một ngựa lên đỉnh núi Sóc Sơn rồi bay thẳng về trời. Vua Hùng cho lập đền thờ để tưởng nhớ công ơn. Đến nay vẫn còn lưu lại nhiều dấu tích xưa.

Ngày xưa, vào thời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng nghèo. Họ chăm chỉ, hiền lành mà vẫn chưa có con. Một hôm nọ, người vợ ra đồng thì nhìn thấy một vết chân lạ. Bà đặt chân vào ướm thử, về nhà mang thai đến mươi hai tháng mới sinh ra một cậu con trai. Cậu bé lên ba tuổi vẫn chưa biết nói biết cười. Bấy giờ, giặc Ân sang xâm lược nước ta. Nhà vua muốn tìm ra người tài để giúp nước, liền sai sứ giả đi khắp nơi. Khi sứ giả đến làng Gióng, cậu bé bảo với mẹ mời sứ giả vào để xin đi đánh giặc. Cậu bé liền nói với sứ giả rằng hãy về tâu nhà vua rèn cho một con ngựa sắt, một chiếc áo giáp sắt và một thanh gươm sắt. Từ đó, cậu bé lớn nhanh như thổi, người dân trong làng phải góp công nuôi lớn. Quân giặc đánh đến nơi cũng là lúc sứ giả mang ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt đến. Gióng vươn vai thành tráng sĩ, đánh tan quân giặc. Giặc tan, tráng sĩ một mình một ngựa lên đỉnh núi Sóc Sơn rồi bay thẳng về trời. Vua Hùng cho lập đền thờ để tưởng nhớ công ơn.

Xưa ở làng Gióng có hai vợ chồng hiền lành, phúc đức mà vẫn chưa có một mụn con. Vào một lần, bà vợ đi ra đồng, thì nhìn thấy một vết chân lạ liền ướm thử. Về nhà bà mang thai. Đến mười hai tháng sau mới sinh ra được một cậu bé. Nhưng cậu lên ba tuổi vẫn chưa biết nói biết cười. Lúc bấy giờ, giặc Ân sang xâm lược nước ta. Vua Hùng muốn tìm người tài giúp nước liền sai sứ giả đi khắp nơi. Đến làng Gióng, cậu bé nghe tiếng của sứ giả liền nói với mẹ mời sứ giả vào. Cậu nói với sứ giả về tâu với vua sắm cho một con ngựa sắt, một cái gươm sắt và một tấm áo giáp sắt để đánh giặc. Từ hôm đó trở đi, cậu bé lớn nhanh như thổi, người dân trong làng phải góp gạo nuôi lớn. Quân giặc đánh đến nơi, cậu bỗng chốc vươn vai thành tráng sĩ. Tráng sĩ đánh tan quân giặc, sau đó một mình một ngựa lên đỉnh núi Sóc Sơn rồi bay thẳng về trời. Nhà vua nhớ công ơn tôn là Phù Đổng Thiên Vương và cho lập đền thờ tại quê nhà.

Lúc bấy giờ là thời Hùng Vương thứ sáu. Ở làng Gióng có hai vợ chồng nông dân hiền lành, chăm chỉ. Nhưng họ vẫn chưa có con. Một hôm, người vợ ra đồng thì trông thấy một vết chân, liền ướm thử. Về đến nhà, bà mang thai. Mười hai tháng sau, bà sinh ra được một cậu con trai. Cậu bé lên ba tuổi vẫn chưa biết nói biết cười. Thuở ấy, giặc Ân đến xâm lược nước ta. Nhà vua sai người đi khắp nơi để tìm người tài. Đến làng Gióng, khi nghe thấy tiếng sứ giả, cậu bé bỗng cất tiếng nói: “Mẹ hãy mời sứ giả vào đây”. Cậu nói với sứ giả về tâu với vua sắm cho một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt để đánh giặc. Kể từ đó, cậu bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo mặc mấy cũng không vừa. Bà con trong cùng góp gạo để nuôi Gióng. Giặc đến, vừa lúc sứ giả mang ngựa sắt, roi sắt và áo giáp sắt đến, cậu bé vươn vai biến thành tráng sĩ đánh tan quân giặc. Sau đó, tráng sĩ một mình cưỡi ngựa lên đỉnh núi, cởi bỏ áo giáp rồi bay về trời. Để tưởng nhớ công ơn, nhà vua nên đã cho lập đền thờ.

Tục truyền, thời Hùng Vương thứ sáu, tại làng Gióng có hai vợ chồng ông hiền lành, chăm chỉ nhưng chưa có con. Một hôm, bà ra đồng trông thấy một vết chân to, liền đặt bàn chân của mình lên ướm thử, về nhà thì mang thai. Mười hai tháng mới sinh ra một cậu bé khôi ngôi, tuấn tú. Cậu bé lên ba mà vẫn không biết nói biết cười, cũng chẳng biết đi, ai đặt đâu thì nằm đấy. Lúc bấy giờ, giặc Ân sang xâm lược nước ta. Vua Hùng sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giúp nước. Đến làng Gióng, đứa bé nghe tin, bỗng cất tiếng nói. Cậu yêu cầu rèn một con ngựa sắt, một chiếc áo giáp sắt và một cái roi sắt để phá tan lũ giặc. Kì lạ, kể từ đó, cậu bé bỗng lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cũng chẳng no, áo mặc mấy cũng không vừa. Dân làng cùng góp gạo nuôi lớn. Giặc đánh đến nơi, cậu bé bỗng vươn vai thành tráng sĩ. Tráng sĩ mặc áo giáp sắt, cưỡi ngựa sắt và cầm roi sắt xông ra diệt giặc. Roi sắt gãy, Gióng bèn nhổ cả những bụi tre bên đường để quét sạch giặc thù. Giặc tan, tráng sĩ một mình một ngựa lên đỉnh núi Sóc Sơn rồi bay thẳng về trời.

Văn Mẫu Lớp 6: Kể Tóm Tắt Truyện Cổ Tích Thạch Sanh (Dàn Ý + 16 Mẫu) Những Bài Văn Mẫu Lớp 6

Kể tóm tắt truyện cổ tích Thạch Sanh

Tài liệu bao gồm dàn ý và 16 mẫu tóm tắt ngắn gọn và đầy đủ vô cùng hữu ích. Các bạn học sinh lớp 6 có thể tham khảo để nắm rõ hơn nội dung chính của văn bản. Nội dung chi tiết được đăng tải ngay sau đây.

1. Mở bài

Giới thiệu truyện cổ tích “Thạch Sanh”.

2. Thân bài

Ngọc Hoàng sai Thái tử xuống đầu thai làm con.

Lý thông gạ cùng Thạch Sanh kết nghĩa anh em để lợi dụng.

Thạch Sanh giết chằn tinh, nhưng bị Lý Thông cướp công.

Thạch Sanh dùng tên bắn bị thương đại bàng, cứu công chúa.

Khi nghe tiếng đàn văng ra từ trong ngục, công chúa bỗng cười nói vui vẻ. Vua tìm ra sự thật, kết tội Lý Thông.

Nhà vua gả công chúa cho Thạch Sanh. Chư hầu đến cầu hôn không được, kéo sang đánh …

3. Kết bài

Ý nghĩa câu chuyện: “Ở hiền gặp lành” và “ác giả ác báo”.

Ngày xưa, ở quận Cao Bình, có hai vợ chồng đã lớn tuổi nhưng chưa có con. Ngọc Hoàng thấy họ tốt bụng liền sai Thái tử đầu thai xuống làm con. Cậu bé sinh ra đã mồ côi cha, về sau người mẹ cũng qua đời. Cậu sống một mình ở gốc đa, dân làng thường gọi là Thạch Sanh. Khi lớn lên, Thạch Sanh được thiên thần dạy cho đủ loại võ nghệ. Thấy Thạch Sanh có sức khỏe, Lí Thông đến gợi chuyện để kết nghĩa anh em. Thạch Sanh đồng ý, rồi dọn về ở cùng mẹ con Lí Thông. Sau này, Thạch Sanh đã lần lượt tiêu diệt chằn tinh, đại bàng và cứu được công chúa nhưng đều bị Lí Thông cướp công. Khi trở về, chàng còn bị hồn chằn tinh và đại bàng hãm hại, bị bắt giam vào ngục tối. T rong ngục, Thạch Sanh đánh đàn để bày tỏ nỗi oan khuất. Lại nói đến công chúa, sau khi được cứu về liền không nói không cười, nhưng khi nghe thấy tiếng đàn bỗng lại cười nói vui vẻ. Nhà vua thấy lạ bèn cho gọi Thạch Sanh vào gặp. Chàng liền đem hết nỗi oan kể cho vua nghe. Lí Thông thì bị trừng trị thích đáng, còn Thạch Sanh được vua gả công chúa cho. Thấy lễ cưới tưng bừng, hoàng tử các nước chư hầu đem quân sang đánh. Thạch Sanh đem đàn ra gảy khiến quân sĩ mười tám nước bủn rủn chân tay xin hàng. Sau đó, chàng cho sai nấu cơm thiết đãi, quân sĩ ăn mãi không hết niêu cơm bé xíu liền cảm ơn rồi kéo nhau về nước. Về sau, vua không có con trai nên đã nhường ngôi cho Thạch Sanh.

Xưa ở quận Cao Bình, có hai vợ chồng lớn tuổi nhưng chưa có con. Thấy họ tốt bụng, Ngọc Hoàng sai thái tử xuống đầu thai làm con. Cậu bé sinh ra đã mồ côi cha, về sau người mẹ cũng qua đời. Cậu sống một mình ở gốc đa. Người ta vẫn gọi là Thạch Sanh. Sau này lớn lên, cậu được thiên thần dạy cho đủ võ nghệ. Một hôm, có người hàng rượu là Lí Thông đến gợi chuyện kết nghĩa huynh đệ. Sau này, Thạch Sanh còn tiêu diệt được chằn tinh, đại bàng nhưng bị Lí Thông lừa gạt và cướp công. Ở dưới hang của đại bàng, chàng vô tình cứu được con trai của vua Thủy tề, được tặng cho cây đàn thần và đưa trở về. Nhưng chàng lại bị hồn chằn tinh và đại bàng hãm hại, bị bắt giam vào ngục. Nhờ tiếng đàn, Thạch Sanh được minh oan. Còn Lí Thông bị trừng trị. Thạch Sanh cưới được công chúa, đánh bại mười tám nước chư hầu. Sau này, nhà vua không có con trai nên đã truyền ngôi cho Thạch Sanh.

Ở quận Cao Bình có hai vợ chồng hiền lành, tuổi đã cao nhưng vẫn chưa có con. Ngọc Hoàng thấy họ tốt bụng liền sai Thái tử đầu thai xuống làm con. Cậu bé vừa sinh ra đã mồ côi cha, về sau mẹ cũng qua đời. Kể từ đó, cậu sống một mình dưới gốc đa. Gia tài chỉ có lưỡi búa của cha để lại. Người ta gọi cậu là Thạch Sanh. Một hôm, có người hàng rượu tên là Lí Thông đi qua. Thấy Thạch Sanh khỏe mạnh, Lí Thông lân la tới hỏi chuyện làm quen, rồi kết nghĩa huynh đệ. Thạch Sanh dọn về sống cùng mẹ con Lí Thông. Trong vùng có một con chằn tinh hung dữ. Nó bắt dân làng mỗi năm phải nộp cho nó một mạng người. Năm ấy đến lượt nhà Lí Thông, hắn liền nghĩ kế khiến Thạch Sanh đi nộp mạng thay mình. Thạch Sanh tốt bụng liền đi canh miếu thay. Đêm ấy, chàng đánh nhau với chằn tinh, giết chết nó rồi chặt đầu con quái vật đem về. Về nhà, mẹ con Lí Thông sợ hãi, nhưng rồi lại nghĩ kế lừa Thạch Sanh trốn đi. Còn Lí Thông đem đầu con chằn tinh vào dâng vua và được thưởng. Nhà vua có công chúa đến tuổi lấy chồng, mở hội kén rể. Trong lễ kén rể, công chúa bị một con đại bàng khổng lồ quặp đi. Thạch Sanh dùng cung tên bắn nó rồi lần theo vết máu biết được hang của đại bàng. Còn Lí Thông bị vua sai đi tìm công chúa. Thạch Sanh gặp Lí Thông, cùng đi cứu công chúa. Nhưng sau đó, Thạch Sanh một lần nữa bị Lí Thông lừa, bỏ lại dưới hang. Ở đây, chàng đã cứu được con Vua Thủy Tề, được mời xuống thủy phủ chơi và tiếp đãi chu đáo. Sau khi trở về Thạch Sanh bị oan hồn chằn tinh và đại bàng hãm hại, bị bắt vào ngục tối. Công chúa sau khi được cứu trở về liền không nói, không cười. Khi nghe tiếng đàn của Thạch Sanh, công chúa bỗng cười nói vui vẻ. Vua thấy lạ bèn cho gọi Thạch Sanh vào gặp. Chàng liền đem hết nỗi oan kể cho vua nghe. Bấy giờ mọi người liền hiểu ra, còn Lí Thông thì bị trừng trị thích đáng. Thạch Sanh được vua gả công chúa cho. Thấy lễ cưới tưng bừng, các nước chư hầu đem quân sang đánh. Thạch Sanh đem đàn ra gảy, tiếng đàn của chàng vừa cất lên đã khiến quân sĩ mười tám nước bủn rủn chân tay xin hàng. Chàng cho sai nấu cơm thiết đãi, quân sĩ thấy niêu cơm bé xíu liền khinh thường. Đến khi họ ăn mãi không hết niêu cơm bé xíu liền cảm ơn rồi kéo nhau về nước.

Thạch Sanh vốn là thái tử, được Ngọc Hoàng sai xuống trần đầu thai làm con của đôi vợ chồng người nông dân lương thiện nhưng mãi chưa có con. Người mẹ mang thai suốt mấy năm trời mới sinh ra được Thạch Sanh. Sau khi sinh chàng, cha mẹ đều mất để lại chàng một mình sống dưới gốc đa, tài sản chỉ có một chiếc rìu của người cha để lại. Khi lớn lên, Thạch Sanh được các thiên thần trên trời xuống dạy cho võ công và đủ các phép thần thông. Chàng vốn hiền lành, chăm chỉ làm lụng nên bị tên Lý Thông trong làng liền đến lân la để kết nghĩa anh em nhưng thực chất hắn muốn lợi dụng sức vóc của chàng để làm giàu cho mình. Thạch Sanh bị mẹ con Lý Thông lừa đi nộp mạng cho chằn tinh nhưng nhờ trí thông minh cùng sức mạnh, chàng đã giết chết chằn tinh, bị Lý Thông lừa cướp công. Công chúa bị đại bàng cắp đi, Thạch Sanh giương cung bắn rơi đại bàng, cứu công chúa song lại bị Lý Thông bỏ lại dưới hang sâu. Thạch Sanh tự cứu mình và cứu con vua Thủy Tề cũng bị giam dưới đó, được vua trả ơn, chàng chỉ nhận một niêu cơm và một cây đàn. Bị hồn của chăn tinh và đại bàng vu oan tội trộm vàng, Thạch Sanh bị nhốt vào ngục. Tiếng đàn của Thạch Sanh đã chữa bệnh câm cho công chúa, chàng được minh oan và được vua gả công chúa cho. Mẹ con Lý Thông bị Trời trừng phạt, biến thành kiếp con bọ hung. Nhờ niêu cơm ăn mãi không hết và tiếng đàn thần kì, Thạch Sanh đã chiến thắng mười tám nước chư hầu.

Ở quận Cao Bình có hai vợ chồng tuổi đã già mà chưa có con. Thấy họ tốt bụng Ngọc Hoàng bèn sai Thái tử xuống đầu thai làm con. Cậu vừa chào đời thì mẹ mất, cậu sống lủi thủi trong túp lều cũ nát. Người ta gọi cậu là Thạch Sanh. Cậu được dạy đủ các môn võ nghệ và mọi phép thần thông. Thạch Sanh bị Lý Thông lợi dụng rủ về sống chung. Nhưng Lý Thông độc ác lừa Thạch Sanh nộp mạng thay mình cho Chằn tinh. Lý Thông cướp công giết Chằn tinh được vua khen ngợi phong làm quận công. Lần nọ, đại bàng đến quắp công chúa đi. Thạch Sanh bèn dùng cung tên bắn đuổi theo, cứu công chúa. Lý Thông lại lần nữa hãm hại Thạch Sanh. Chàng đã dùng tiếng đàn để giải oan, được vua gả công chúa cho. Nhờ niêu cơm ăn mãi không hết và tiếng đàn thần kì, Thạch Sanh đã chiến thắng mười tám nước chư hầu.

Ngày xưa ở quận Cao Bình có hai vợ chồng đã nhiều tuổi mà chưa có con. Thấy họ tốt bụng Ngọc Hoàng sai thái tử xuống đầu thai làm con. Cậu bé sinh ra đã mồ côi cha, về sau người mẹ cũng qua đời. Từ đó, cậu sống lủi thủi trong gốc đa, cả gia tài chỉ có lưỡi búa cha để lại, người ta gọi cậu là Thạch Sanh. Thấy Thạch Sanh có sức khỏe, Lí Thông mới lân la gợi chuyện để hai người kết nghĩa anh em. Bấy giờ, trong vùng có một con chằn tinh hung dữ, nó bắt dân làng mỗi năm phải nộp cho nó một mạng người. Năm ấy, đến lượt nhà Lý Thông, hắn bèn nghĩ kế lừa Thạch Sanh đi nộp mạng thay mình. Thạch Sanh giết chết chằn tinh nhưng khi trở về lại bị Lí Thông lừa gạt phải trốn đi. Trong ngày kén rể, công chúa bị đại bàng khổng lồ quắp đi. Thạch Sanh cứu được công chúa, nhưng lại bị Lí Thông nhốt dưới hang đại bàng. Ở đây, Thạch Sanh đã cứu con vua Thủy Tề, được đối đãi rất hậu và đưa về quê nhà. Khi trở về, chàng bị hồn của chằn tinh và đại bàng mưu hại nên bi bắt giam. Trong ngục, chàng lấy cây đàn được vua Thủy Tề tặng ra đánh để bày tỏ nỗi oan khuất. Vua lấy làm lạ cho Thạch Sanh đến gặp, chàng kể hết mọi oan khuất. Lí Thông bị trừng trị còn Thạch Sanh được gả công chúa cho. Thạch Sanh còn đánh bại các nước chư hầu. Về sau, vua không có con trai nên đã truyền ngôi cho Thạch Sanh.

Hai vợ chồng tuổi đã già mà chưa có con. Ngọc Hoàng bèn sai Thái tử xuống đầu thai làm con. Cậu bé sinh ra đã mồ côi cha, về sau người mẹ cũng qua đời. Từ đó, cậu sống lủi thủi trong gốc đa, cả gia tài chỉ có lưỡi búa cha để lại, người ta gọi cậu là Thạch Sanh. Thấy Thạch Sanh có sức khỏe, Lí Thông mới lân la gợi chuyện để hai người kết nghĩa anh em.Bấy giờ, trong vùng có một con chằn tinh hung dữ, nó bắt dân làng mỗi năm phải nộp cho nó một mạng người. Năm ấy, đến lượt nhà Lý Thông, hắn bèn nghĩ kế lừa Thạch Sanh đi nộp mạng thay mình. Thạch Sanh giết chết chằn tinh nhưng khi trở về lại bị Lí Thông lừa gạt phải trốn đi. Lí Thông đem đầu chằn tinh dâng lên vua để nhận thưởng. Khi trở về, chàng bị hồn của chằn tinh và đại bàng mưu hại nên bi bắt giam. Trong ngục, chàng lấy cây đàn được vua Thủy Tề tặng ra đánh để bày tỏ nỗi oan khuất. Vua lấy làm lạ cho Thạch Sanh đến gặp, chàng kể hết mọi oan khuất. Lí Thông bị trừng trị còn Thạch Sanh được gả công chúa cho. Mười tám nước chư hầu thấy vậy đem quân sang đánh nhưng đã bị tiếng đàn và niêu cơm thần thu phục.

Ở quận Cao Bình, có hai vợ chồng lớn tuổi nhưng chưa được một mụn con. Thấy họ tốt bụng, Ngọc Hoàng sai thái tử xuống đầu thai làm con. Cậu bé sinh ra đã mồ côi cha, về sau người mẹ cũng qua đời. Từ đó, cậu sống lủi thủi trong gốc đa. Cả gia tài chỉ có lưỡi búa cha để lại, người ta gọi cậu là Thạch Sanh. Có người hàng rượu tên là Lí Thông, thấy Thạch Sanh khỏe mạnh, lân la đến gợi chuyện kết nghĩa huynh đệ. Không chỉ vậy, hắn còn lừa Thạch Sanh đi canh miếu thay để nộp mạng cho chằn tinh. Thạch Sanh giết chết chằn tinh nhưng lại bị Lý Thông cướp công. Vào ngày kén rể, công chúa bị đại bàng bắt đi. Thạch Sanh đã bắn đại bàng, rồi cứu được công chúa nhưng lại bị Lý Thông hãm hại. Cuối cùng, nhờ tiếng đàn, Thạch Sanh được minh oan. Còn Lí Thông bị trừng trị. Thạch Sanh cưới được công chúa, đánh bại mười tám nước chư hầu rồi được vua truyền ngôi cho.

Ngày xưa, ở quận Cao Bình có hai vợ chồng có tuổi mà chưa có con. Thấy họ tốt bụng Ngọc Hoàng sai Thái tử xuống đầu thai làm con. Cậu bé sinh ra đã mồ côi cha, về sau người mẹ cũng qua đời. Từ đó, cậu sống lủi thủi trong gốc đa, cả gia tài chỉ có lưỡi búa cha để lại, người ta gọi cậu là Thạch Sanh. Thấy Thạch Sanh có sức khỏe, Lí Thông mới đến gợi chuyện để hai người kết nghĩa anh em. Sau đó, hắn còn lừa Thạch Sanh đi canh miếu thay để nộp mạng cho chằn tinh. Thạch Sanh giết chết chằn tinh nhưng lại bị Lý Thông lừa gạt, cướp công. Trong ngày kén rể, công chúa bị đại bàng khổng lồ quắp đi. Thạch Sanh liền dùng cung tên bắn đại bàng. Thạch Sanh tình cờ gặp Lí Thông, biết được hắn đi cứu công chúa liền xin đi cùng. Nhưng sau đó, Thạch Sanh lại bị bỏ lại dưới hang. Ở đây, Thạch Sanh đã cứu con vua Thủy Tề, được đối đãi rất hậu và đưa về quê nhà. Khi trở về, chàng bị hồn của chằn tinh và đại bàng mưu hại nên bị bắt giam. Trong ngục, chàng lấy cây đàn được vua Thủy Tề tặng ra đánh để bày tỏ nỗi oan khuất. Lí Thông bị trừng trị, còn Thạch Sanh được vua gả công chúa cho. Thấy lễ cưới tưng bừng, hoàng tử các nước chư hầu đem quân sang đánh. Thạch Sanh đem đàn ra gảy, tiếng đàn của chàng vừa cất lên đã khiến quân sĩ mười tám nước bủn rủn chân tay xin hàng. Thạch Sanh sai nấu cơm thiết đãi, quân sĩ ăn mãi không hết niêu cơm bé xíu liền cảm ơn rồi kéo nhau về nước. Về sau, vua không có con trai nên đã nhường ngôi cho Thạch Sanh.

Bấy giờ, ở quận Cao Bình có hai vợ chồng hiền lành, tuổi đã cao nhưng vẫn chưa có một mụn con. Ngọc Hoàng thấy họ tốt bụng liền sai Thái tử đầu thai xuống làm con. Cậu bé vừa sinh ra đã mồ côi cha, về sau mẹ cũng qua đời. Kể từ đó, cậu sống một mình dưới gốc đa. Gia tài chỉ có lưỡi búa của cha để lại. Người ta gọi cậu là Thạch Sanh.

Một hôm, Lí Thông đi ngang qua thấy Thạch Sanh khỏe mạnh liền tới hỏi chuyện rồi gạ kết nghĩa huynh đệ. Sau đó, Thạch Sanh dọn về ở cùng mẹ con Lí Thông. Trong vùng có một con chằn tinh tác yêu tác quái. Nó bắt dân làng mỗi năm phải nộp cho nó một mạng người. Năm ấy đến lượt nhà Lí Thông, hắn liền lừa Thạch Sanh đi canh miếu thay. Vốn tốt bụng nên chàng đã giúp đỡ Lí Thông mà không hay biết mình bị lừa gạt. Đêm ấy, Thạch Sanh đánh nhau với con quái vật, rồi chặt đầu con quái vật đem về. Lí Thông lại lừa khiến Thạch Sanh trốn đi, còn mình đem đầu chằn tinh vào cung nhận thưởng.

Nhà vua có công chúa đến tuổi lấy chồng, cho mở hội kén rể. Trong buổi hội, công chúa bị một con đại bàng khổng lồ quặp đi. Thạch Sanh dùng cung tên bắn nó rồi lần theo vết máu biết được hang của đại bàng. Lí Thông được nhà vua cử đi tìm công chúa, tình cờ gặp Thạch Sanh. Biết chuyện, Thạch Sanh xin được đi cùng. Đến hang, Thạch Sanh xin xuống hang cứu công chúa. Thạch Sanh đánh nhau với đại bàng, dùng cung tên bắn mù mắt nó, vung búa bổ đôi đầu con vật. Chàng cứu được công chúa. Nhưng lại bị Lí Thông bỏ lại hang đại bàng. Ở đây, chàng cứu được hoàng tử, con trai vua Thủy Tề và mời xuống thủy cung chơi, tiếp đãi chu đáo.

Sau khi trở về, chàng bị oan hồn chằn tinh và đại bàng hãm hại, bị bắt vào ngục tối. Công chúa sau khi được cứu trở về liền không nói, không cười. Khi nghe tiếng đàn của Thạch Sanh, công chúa bỗng cười nói vui vẻ. Vua thấy lạ bèn cho gọi Thạch Sanh vào gặp. Chàng liền đem hết nỗi oan kể cho vua nghe. Bấy giờ mọi người liền hiểu ra, Thạch Sanh được vua gả công chúa cho, còn Lí Thông thì bị trừng trị thích đáng. Thấy lễ cưới tưng bừng, quân sĩ mười tám nước chư hầu kéo quân sang. Thạch Sanh đem đàn ra gảy, tiếng đàn của chàng vừa cất lên đã khiến quân sĩ mười tám nước bủn rủn chân tay xin hàng. Chàng sai nấu cơm thiết đãi, quân sĩ thấy niêu cơm bé xíu liền khinh thường. Quân sĩ ăn mãi không hết niêu cơm bé xíu liền cảm ơn rồi kéo nhau về nước. Về sau, vua không có con trai nên đã nhường ngôi cho Thạch Sanh.

Xưa, có hai vợ chồng già sống nhân hậu mà vẫn chưa có con. Ngọc Hoàng cho thái tử xuống trần đầu thai làm con hai vợ chồng già ấy.

Thạch Sanh mồ côi cha mẹ, sống ở gốc đa và được các thiên tướng dạy cho võ nghệ. Lí Thông dỗ Thạch Sanh kết nghĩa anh em với mình. Bấy giờ, trong vùng có một con chằn tinh hung dữ, nó bắt dân làng mỗi năm phải nộp cho nó một mạng người. Năm ấy, đến lượt nhà Lí Thông. Hắn đã lừa Thạch Sanh đi thế mạng với lí do đi canh miếu thờ. Thach Sanh đã giết chết Chằn Tinh, đốt xác nó và được cây cung vàng. Thế nhưng, chàng bị Lí Thông cướp công, lại trở về gốc đa sống. Lí Thông đem đầu chằn tinh vào nộp cho vua để lĩnh thưởng, được vua phong làm Quận công.

Nhà vua có công chúa đến tuổi kén chồng. Trong ngày hội lớn, công chúa bị đại bàng khổng lồ quắp đi. Lí Thông lại nhờ Thạch Sanh giết đại bàng cứu công chúa, Thạch Sanh xuống hang, giao chiến với Đại bàng và cứu được công chúa nhưng sau khi đưa được công chúa lên khỏi hang. Lí Thông đã lấp hang để giết Thạch Sanh. Chàng lại cứu được con vua Thuỷ Tề và được vua Thuỷ Tề tặng cho cây đàn thần.

Từ khi được cứu về, công chúa không cười không nói. Hồn chằn tinh và đại bàng trả thù, vu vạ cho Thạch Sanh khiến chàng bị nhốt vào ngục. Chàng đánh đàn, công chúa nghe thấy liền khỏi bệnh câm. Thạch Sanh được vua cho gọi lên. Chàng kể lại rõ mọi việc. Vua giao cho chàng xử tội mẹ con Lí Thông. Được chàng tha bổng nhưng hai mẹ con trên đường về đã bị sét đánh chết, hoá kiếp thành bọ hung.

Thái tử mười tám nước nước chư hầu vì không được vua gả con gái cho, đã kéo quân sang đánh nước ta. Nhờ có tiếng đàn và niêu cơm thần, Thạch Sanh đã đánh bại mười tám nước chư hầu.

Thạch Sanh vốn là thái tử (con Ngọc Hoàng), được phái xuống làm con vợ chồng người nông dân nghèo khổ nhưng tốt bụng. Chàng sớm mồ côi cha mẹ, sống lủi thủi dưới gốc đa, hái củi kiếm sống qua ngày.

Lí Thông – một người hàng rượu – thấy Thạch Sanh khỏe mạnh hắn giả vờ kết nghĩa anh em để lợi dụng. Đúng dịp Lí Thông đến lượt phải vào đền cho chằn tinh hung dữ ăn thịt, hắn bèn lừa Thạch Sanh đến nộp mạng thay cho mình. Thạch Sanh đã giết chết chằn tinh. Lí Thông lại lừa cho Thạch Sanh bỏ trốn rồi đem đầu chằn tinh vào nộp cho vua để lĩnh thưởng, được vua phong làm Quận công.

Nhà vua có công chúa đến tuổi kén chồng. Trong ngày hội lớn, công chúa bị đại bàng khổng lồ quắp đi. Qua gốc đa chỗ Thạch Sanh đang ở, nó bị chàng dùng cung tên bắn bị thương. Thạch Sanh lần theo vết máu, biết được chỗ đại bàng ở. Vua mất công chúa, vô cùng đau khổ, sai Lí Thông đi tìm, hứa gả con và truyền ngôi cho. Lí Thông lại nhờ Thạch Sanh cứu công chúa rồi lừa nhốt chàng dưới hang sâu.

Thạch Sanh giết đại bàng, lại cứu luôn thái tử con vua Thủy Tề bị đại bàng bắt giam trong cũi cuối hang từ lâu. Theo chân thái tử, chàng xuống thăm thuỷ cung, được vua Thuỷ Tề khoản đãi rất hậu, tặng nhiều vàng bạc nhưng chàng chỉ xin cây đàn thần rồi lại trở về gốc đa.

Từ khi được cứu về, công chúa không cười không nói. Hồn chằn tinh và đại bàng trả thù, vu vạ cho Thạch Sanh khiến chàng bị nhốt vào ngục. Chàng đánh đàn, công chúa nghe thấy liền khỏi bệnh câm. Thạch Sanh được vua cho gọi lên. Chàng kể lại rõ mọi việc. Vua giao cho chàng xử tội mẹ con Lí Thông. Được chàng tha bổng nhưng hai mẹ con trên đường về đã bị sét đánh chết, hoá kiếp thành bọ hung.

Thạch Sanh được nhà vua gả công chúa cho. Các nước chư hầu tức giận đem quân sang đánh. Thạch Sanh lại lấy đàn ra gảy khiến quân địch quy hàng. Ăn không hết niêu cơm nhỏ của Thạch Sanh, quân sĩ mười lăm nước kính phục rồi rút hết. Nhà vua đã truyền ngôi cho Thạch Sanh.

Ngày xửa ngày xưa, có một đôi vợ chồng già không có con, tuổi cao mà vẫn phải kiếm củi nuôi thân. Thấy họ tốt bụng, Ngọc Hoàng bèn sai thái tử xuống đầu thai làm con trai họ. Mọi người gọi cậu bé là Thạch Sanh, cậu bé trưởng thành thì cả hai vợ chồng đều mất.

Thạch Sanh sống ở túp lều bên gốc đa, tài sản chỉ có chiếc rìu sắt cha để lại, chàng đốn củi để nuôi thân mình. Ngọc Hoàng sai thiên thần dạy cho Thạch Sanh nhiều phép thần thông và võ nghệ, bởi vậy chàng có sức mạnh phi thường. Lí Thông thấy Thạch Sanh khỏe mạnh liền mời chàng kết nghĩa anh em để lợi dụng. Năm đó đến lượt Lí Thông phải nộp mạng cho chằn tinh gian ác, mẹ con hắn lừa Thạch Sanh đến chỗ chằn tinh để mình thoát chết. Thạch Sanh nhờ có phép thần thông nên giết được chằn, cướp được cung tên vàng. Lí Thông lại bày mưu lừa Thạch Sanh trở về gốc đa, hắn đem đầu chằn tinh lên lĩnh thưởng.

Nhà vua có một cô con gái xinh đẹp, vua đã tổ chức kén rể cho nàng, nhưng không may vào đúng hôm ấy, công chúa đã bị đại bàng quắp đi. Thạch Sanh vô tình biết nơi đại bàng giấu công chúa. Lí Thông lại một lần nữa nhờ Thạch Sanh cứu công chúa. Thạch Sanh sau một hồi giao chiến đã giết chết đại bàng, cứu được công chúa. Lí Thông đã lấp cửa hang để Thạch sanh không ra khỏi đó được. Trong hang, chàng đã cứu được con trai vua Thủy Tề, chàng được vua tặng cho một cây đàn thần.

Hồn ma của chằn tinh và đại bàng vì uất hận đã bày mưu ăn trộm vàng bạc của vua giấu ở gốc đa để vu họa khiến Thạch Sanh bị bắt giam. Công chúa sau khi trở về lại không nói, không cười. Kì lạ thay sau khi nghe tiếng đàn của Thạch Sanh trong ngục bèn cất tiếng nói sai người mời chàng tới. Thạch sanh kể hết mọi sự tình cho vua nghe, vua đã gả công chúa cho chàng. Chàng tha cho hai mẹ con Lí Thông về quê làm ăn nhưng trên đường chúng bị sét đánh biến thành con bọ hung.

Bấy giờ hoàng tử các nước chư hầu đến cầu hôn không lấy được công chúa bèn giấy binh nổi loạn. Thạch Sanh gảy đàn thần khiến họ bại trận. Trước khi về, quân lính các nước còn được thết đãi một bữa no nê nhờ niêu cơm thần của chàng. Vua không có con trai nên đã truyền ngôi cho Thạch Sanh làm vua.

Ngày xưa, ở quận Cao Bình có vợ chồng Lục ông làm nghề đốn củi hiền lành, giàu lòng thương người. Ngọc Hoàng thương tình vợ chồng Lục ông hiếm hoi bèn cho Thế tử xuống trần đầu thai. Lục bà mang thai, nhưng đã nhiều năm vẫn chưa sinh nở. Rồi Lục ông qua đời… Mãi mấy năm sau, người mẹ già mới sinh được đứa con trai rất khôi ngô, đặt tên là Thạch Sanh. Chẳng bao lâu sau, mẹ hiền cũng qua đời. Thạch Sanh bơ vơ, lấy gốc đa làm nhà, kiếm củi độ thân. Ngọc Hoàng rất thương, bèn sai Thiên thần xuống trần dạy Thạch Sanh võ nghệ, các phép thần thông biến hoá, và cho búa thần làm vũ khí.

Advertisement

Gần vùng có Lý Thông làm nghề bán rượu. Hắn đã đón Thạch Sanh về nhà kết nghĩa làm anh em. Năm ấy, đến lượt Lý Thông phải nộp mình cho Trằn tinh, hắn bèn lập mưu để Thạch Sanh đi giết quái vật thay mình, cắt đầu và xả xác quái vật, Thạch Sanh được bộ cung tên thần bằng vàng. Xách đầu Trăn tinh về, Thạch Sanh đập cửa gọi. Hai mẹ con họ Lý hoảng hồn… Nhưng khi mở cửa, Lý Thông nhìn thấy cái đầu khổng lồ của Trăn tinh, hắn bèn dọa Thạch Sanh giết chết báu vật của vua nuôi, phải mau mau trốn đi. Thạch Sanh lại trở về gốc đa chốn cũ. Lý Thông đem đầu chằn tinh dâng nộp triều đình và hắn được vua phong tước Quận công.

Trong lễ hội kén chọn phò mã, công chúa đã bị Đại bàng khổng lồ quắp đi. Thạch Sanh đang nằm nghỉ dưới gốc đa chợt thấy con chim lạ bay về hang ở. Nhà vua hứa gả công chúa cho người tài nào cứu được nàng. Lý Thông tìm gặp “đứa em kết nghĩa”. Thạch Sanh theo dấu máu tìm đến hang ổ đại bàng, ác điểu chống trả quyết liệt chàng dũng sĩ, nhưng nó đã bị chàng dùng cung tên vàng bắn mù cả hai mắt, dùng búa thần chém đứt vuốt sắc, bổ làm đôi đầu quái vật. Dòng dây đưa nàng công chúa thoát khỏi hang sâu, Lý Thông lại sai quân lính vần đá lấp cửa hang hãm hại Thạch Sanh. Chàng đã đi khắp hang lạnh, khám phá. Thạch Sanh lại dùng cung tên thần bắn tan cũi sắt, cứu thoát Thái tử con vua Thuỷ tề đang bị Đại bàng giam hãm. Thạch Sanh được Thái tử mời xuống chơi thuỷ phủ. Nhà vua hậu đãi chàng dũng sĩ cõi trần. Để đền ơn ân nhân, vua Thuỷ tề tặng Thạch Sanh một cây đàn thần. Thạch Sanh lại trở về gốc đa. Hồn của đại bàng và chằn tinh căm thù hãm hại Thạch Sanh nên đã cùng bàn mưu bị hạ ngục!

Công chúa sau khi được cứu thoát đã bị câm. Các quan ngự y đều bó tay. Lý Thông vô cùng nóng ruột. Nằm trong ngục, Thạch Sanh lấy đàn thần ra gảy. Tiếng đàn lúc thì ai oán não nùng, lúc, thì hờn căm uất hận. Nghe tiếng đàn thần, công chúa tự nhiên nói được, nàng xin vua cha được gặp người đánh đàn.

Gặp ân nhân, công chúa vui mừng khôn xiết kể lại câu chuyện dưới hang sâu. Nhà vua tức giận bắt giam Lý Thông và giao cho Thạch Sanh xét xử. Chàng đã tha tội cho cả hai mẹ con về quê. Nhưng đến giữa đường cả hai mẹ con Lý Thông đều bị sét đánh chết, hoá kiếp thành bọ hung.

Vua cho Thạch Sanh làm phò mã. Mười tám nước chư hầu bất bình kéo quân vây đánh kinh đô. Thạch Sanh lại dùng đàn thần lui giặc. Hàng vạn tướng sĩ chư hầu được Thạch Sanh đãi một niêu cơm thần bé xíu mà ăn mãi chẳng hết. Mấy năm sau, vua già yếu, nhường ngôi báu cho Thạch Sanh.

Ngày xưa ở quận Cao Bình có hai vợ chồng có tuổi mà chưa có con. Thấy họ tốt bụng Ngọc Hoàng sai thái tử xuống đầu thai làm con. Cậu bé sinh ra đã mồ côi cha, về sau người mẹ cũng qua đời. Từ đó, cậu sống lủi thủi trong gốc đa, cả gia tài chỉ có lưỡi búa cha để lại, người ta gọi cậu là Thạch Sanh. Thấy Thạch Sanh có sức khỏe, Lí Thông mới lân la gợi chuyện để hai người kết nghĩa anh em. Thạch Sanh về ở cùng mẹ con Lí Thông.

Bấy giờ, trong vùng có một con chằn tinh hung dữ, nó bắt dân làng mỗi năm phải nộp cho nó một mạng người. Năm ấy, đến lượt nhà Lý Thông, hắn bèn nghĩ kế lừa Thạch Sanh đi nộp mạng thay mình. Thạch Sanh giết chết chằn tinh nhưng khi trở về lại bị Lí Thông lừa gạt phải trốn đi. Lí Thông đem đầu chằn tinh dâng lên vua để nhận thưởng.

Trong ngày kén rể, công chúa bị đại bàng khổng lồ quắp đi. Thạch Sanh liền dùng cung tên bắn đại bàng và lần theo vết máu tìm ra chỗ ở của nó. Lí Thông được vua cử đi tìm công chúa, một lần vô tình gặp Thạch Sanh và biết được hang của đại bàng. Cả hai cùng đi cứu công chúa. Đến hang, Thạch Sanh xuống hang giết đại bàng cứu được công chúa nhưng lại bị Lí Thông hãm hại lấp kín cửa hàng không cho chàng lên. Ở đây, Thạch Sanh đã cứu con vua Thủy Tề, được đối đãi rất hậu và đưa về quê nhà. Khi trở về, chàng bị hồn của chằn tinh và đại bàng mưu hại nên bi bắt giam. Trong ngục, chàng lấy cây đàn được vua Thủy Tề tặng ra đánh để bày tỏ nỗi oan khuất. Vua lấy làm lạ cho Thạch Sanh đến gặp, chàng kể hết mọi oan khuất. Lí Thông bị trừng trị còn Thạch Sanh được gả công chúa cho.

Thấy lễ cưới tưng bừng, hoàng tử các nước chư hầu trước kia bị công chúa từ hôn đem quân sang đánh. Thạch Sanh đem đàn ra gảy, tiếng đàn của chàng vừa cất lên đã khiến quân sĩ mười tám nước bủn rủn chân tay xin hàng. Thách Sanh sai nấu cơm thiết đãi, quân sĩ ăn mãi không hết niêu cơm bé xíu liền cảm ơn rồi kéo nhau về nước. Về sau, vua không có con trai nên đã truyền ngôi cho Thạch Sanh.

Ở quận Cao Bình có hai vợ chồng lớn tuổi nhưng chưa có con. Ngọc Hoàng thấy họ tốt bụng liền sai Thái tử đầu thai xuống làm con. Cậu bé sinh ra đã mồ côi cha, về sau người mẹ cũng qua đời. Cậu sống một mình ở gốc đa, dân làng thường gọi là Thạch Sanh. Khi lớn lên, Thạch Sanh được thiên thần dạy cho đủ loại võ nghệ.

Thấy Thạch Sanh có sức khỏe, Lí Thông đến gợi chuyện để hai người kết nghĩa anh em. Thạch Sanh đồng ý, rồi dọn về ở cùng mẹ con Lí Thông. T rong vùng có một con chằn tinh tác yêu tác quái. Nó bắt dân làng mỗi năm phải nộp cho nó một mạng người. Năm ấy đến lượt nhà Lí Thông, hắn liền nghĩ kế khiến Thạch Sanh đi nộp mạng thay mình. Đêm ấy, Thạch Sanh đang lim dim mắt thì chằn tinh hiện ra định vồ lấy chàng. Chàng dùng nhiều võ thuật giết chết con quái vật. Khi trở về, Lí Thông đã lừa Thạch Sanh để cướp công.

Trong lễ kén rể, công chúa bị một con đại bàng khổng lồ quặp đi. Thạch Sanh dùng cung tên bắn nó rồi lần theo vết máu biết được hang của đại bàng. Tình cờ, Lí Thông gặp lại Thạch Sanh, nói với chàng chuyện tìm công chúa. Thạch Sanh xin được đi cùng. Đến hang, Thạch Sanh xin xuống hang cứu công chúa, nhưng sau đó bị Lí Thông nhốt lại dưới hang. Ở đây, chàng cứu được con trai Vua Thủy Tề, được mời xuống thủy phủ chơi và tặng cho một cây đàn thần. Sau khi trở về, Thạch Sanh bị oan hồn chằn tinh và đại bàng hãm hại, bị bắt vào ngục tối. Trong ngục, Thạch Sanh đánh đàn để bày tỏ nỗi oan khuất. Nhà vua thấy lạ bèn cho gọi Thạch Sanh vào gặp. Chàng liền đem hết nỗi oan kể cho vua nghe. Lí Thông thì bị trừng trị thích đáng, còn Thạch Sanh được vua gả công chúa cho.

Thấy lễ cưới tưng bừng, hoàng tử các nước chư hầu đem quân sang đánh. Thạch Sanh đem đàn ra gảy, tiếng đàn của chàng vừa cất lên đã khiến quân sĩ mười tám nước bủn rủn chân tay xin hàng. Thạch Sanh sai nấu cơm thiết đãi, quân sĩ ăn mãi không hết niêu cơm bé xíu liền cảm ơn rồi kéo nhau về nước. Về sau, vua không có con trai nên đã nhường ngôi cho Thạch Sanh.

Văn Mẫu Lớp 6: Tả Bạn Thân (3 Mẫu) Những Bài Văn Mẫu Lớp 6

Tả bạn thân

Tả bạn thân – Mẫu 1

Bạn bè có vai trò quan trọng đối với mỗi người. Trong cuộc sống, chúng ta có thể có rất nhiều bạn bè, nhưng người bạn thân thiết thì đôi khi lại chỉ có rất ít. Và tôi cũng có một người bạn như thế.

Minh Khuê là người bạn thân thiết nhất của tôi. Chúng tôi học cùng trường từ cấp mộ. Khuê là một cô bạn xinh xắn, đáng yêu. Bạn không cao lắm, dáng người mảnh khảnh. Khuôn mặt của bạn có hình trái xoan, nước da hồng hào trông tràn đầy sức sống. Đôi mắt của Khuê to và tròn. Khi nhìn vào đôi mắt đó, tôi cảm nhận được sự hoạt bát và tinh nghịch. Mái tóc của bạn đen nhánh, mềm mượt và luôn được bạn buộc lại gọn gàng sau gáy. Đôi bàn tay nhỏ nhắn, nhưng lại rất khéo léo. Giọng nói của Khuê nhỏ nhẹ, trong trẻo.

Tính cách của Khuê rất tốt. Bạn là một người hòa đồng, vui tính. Mỗi khi bạn bè gặp khó khăn, Khuê luôn sẵn lòng giúp đỡ. Ở trong lớp, Khuê là một học sinh chăm chỉ và ngoan ngoãn. Thành tích học tập của bạn cũng rất đáng nể. Môn học mà Khuê yêu thích nhất là Toán. Thỉnh thoảng, tôi hay nhờ Khuê giảng bài cho. Cuối tuần, tôi thường đến nhà Khuê chơi. Tôi hay thấy bạn giúp đỡ mẹ công việc nhà. Lúc đó, tôi rất ngưỡng mộ vì bạn thật khéo tay.

Chúng tôi đã cùng nhau học tập, cùng nhau vui chơi nên có rất nhiều kỉ niệm đẹp. Tôi cảm thấy vô cùng yêu quý Minh Khuê, cũng như trân trọng tình bạn giữa chúng em.

Tả bạn thân – Mẫu 2

Cuộc đời mỗi người đều có những người bạn tri kỉ. Với tôi, Đức Anh chính là người bạn thân thiết mà tôi luôn trân trọng và yêu mến.

Chúng tôi vừa là những người hàng xóm, vừa là bạn học cùng lớp với nhau trong nhiều năm qua. Đức Anh là một cậu con trai vô cùng hoạt bát. Bạn cao khoảng một mét sáu mươi xăng-ti-mét. Khuôn mặt của bạn khá ưa nhìn. Mái tóc được cắt ngắn gọn gàng. Làn da ngăm đen trong vô cùng khỏe khoắn. Vầng trán cao và rộng, đôi mắt sáng và đầy mạnh mẽ. Chiếc mũi thẳng, cùng với đôi môi trái tim. Nụ cười của bạn luôn ánh lên vẻ tự tin. Tất cả đều gợi cho người đối diện cảm giác về sự thông minh, tài năng.

Trong lớp học, Đức Anh là một cậu con trai vô cùng tốt bụng, nhiệt tình. Bạn thường xuyên giúp đỡ bạn bè: khi thì giảng bài, khi thì trực nhật thay hoặc làm giúp đỡ các bạn nữ công việc nặng như bê bình nước, kê bàn ghế… Không chỉ vậy, Đức Anh học cũng rất giỏi, nhưng không chỉ riêng một môn nào cả. Điểm tổng kết các môn học đều rất cao. Tuy nhiên, trong các môn học, Đức Anh thích thích học môn Toán nhất. Tôi đã từng rất nhiều lần nhờ Đức Anh giảng bài cho. Những lúc như vậy, Đức luôn kiên nhẫn giảng bài cho tôi. Cách giảng bài của cậu cũng dễ hiểu. Đối với các thầy cô, Đức là một học sinh ngoan ngoãn, nên luôn nhận được sự yêu mến.

Ngoài giờ học, bạn thường chơi các môn thể thao như đá bóng, bóng chuyền để rèn luyện sức khỏe. Chúng tôi thường chơi đá bóng với nhau. Ước mơ của cậu chính là một cầu thủ đá bóng chuyên nghiệp. Tôi hy vọng rằng, Đức Anh sẽ sớm thực hiện được ước mơ của mình.

Tình bạn với mỗi người thật đáng quý. Với tôi cũng vậy, tôi luôn coi trọng tình bạn giữa tôi và Đức Anh. Hy vọng rằng, chúng tôi sẽ mãi giữ gìn được tình cảm quý giá này.

Tả bạn thân – Mẫu 3

Người bạn em thân thiết nhất của em là Phương Anh. Chúng em vừa là hàng xóm, vừa là bạn bè của nhau. Bởi vậy, cả hai đều thấu hiểu và yêu mến nhau.

Phương Anh là một cô bạn xinh xắn và hiền lành. Dáng người của bạn khá nhỏ nhắn. Bạn chỉ cao khoảng một mét ba năm mươi xăng-ti-mét. Phương Anh khá gầy, khoảng bốn mươi ki-lô-gam. Khuôn mặt trái xoan cùng với mái tóc đen dài lúc nào cũng được buộc gọn gàng. Đôi mắt của Phương Anh vừa to tròn, vừa đen láy. Chiếc miệng nhỏ xinh, hồng hào. Hàm răng trắng đều, với chiếc răng khểnh rất duyên dáng. Đôi bàn tay nhỏ xinh, đảm đang. Giọng nói nhẹ nhàng, ấm áp. Nụ cười lúc nào cũng rạng rỡ trên môi. Em thích nhất là nụ cười của bạn. Nụ cười ấy đem đến cho người khác một nguồn năng lượng tích cực.

Trong lớp, tính cách của Phương Anh khá trầm. Ngoài em ra, có lẽ bạn cũng không thân thiết với nhiều bạn khác. Nhưng ngược lại, bạn luôn chăm chỉ học tập và luôn đạt được thành tích cao khiến các bạn trong lớp đều ngưỡng mộ. Bạn học giỏi nhất là môn Toán và Tiếng Anh. Mỗi khi gặp phải những bài toán khó, em đều đem sách vở sang nhờ bạn giảng giúp.

Advertisement

Ngoài giờ học, chúng em thường đến nhà nhau chơi. Những lúc đó, cả hai thường cùng nhau xem tivi, đọc sách. Em và Phương Anh đều có chung sở thích là đọc sách, xem phim. Sau khi đọc xong một cuốn sách, chúng em lại chia sẻ cho nhau về nội dung cuốn sách, cảm nghĩ của mình về cuốn sách… Bố mẹ của hai đứa đều rất yêu quý em và Phương Anh. Thỉnh thoảng, em còn thấy Phương Anh giúp đỡ mẹ công việc nhà. Bạn là một cô gái ngoan ngoãn, chăm chỉ.

Đối với em, Phương Anh là người bạn tri kỉ. Em hy vọng rằng, chúng em sẽ luôn là những người bạn thân của nhau.

Văn Mẫu Lớp 6: Phân Tích Nhân Vật Dế Mèn Trong Truyện Bài Học Đường Đời Đầu Tiên 12 Bài Văn Mẫu Lớp 6 Hay Nhất

Phân tích nhân vật Dế Mèn

Tài liệu bao gồm dàn ý và 11 bài văn mẫu hay nhất dành cho học sinh lớp 6. Mời tham khảo nội dung chi tiết ngay bên dưới để có thêm ý tưởng cho bài viết của mình.

Dàn ý phân tích nhân vật Dế Mèn

I. Mở bài

Giới thiệu nhân vật Dế Mèn: Chương đầu tiên của truyện là “Bài học đường đời đầu tiên” đã miêu tả rõ nét cả ngoại hình và tính cách của Dế Mèn, đồng thời đó cũng là câu chuyện về bài học đầu tiên của Dế Mèn.

II. Thân bài

1. Ngoại hình Dế Mèn

– Dế Mèn là một chú dế khỏe mạnh, cường tráng và có lối sống khoa học: “Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm”, “chẳng bao lâu tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng”.

– Các đặc điểm ngoại hình:

Đôi càng mẫm bóng.

Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt.

Người rung rinh một màu nâu bóng mỡ, soi gương được và rất ưa nhìn.

Đầu tôi to ra, nổi từng tảng rất bướng.

Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp.

2. Tính cách Dế Mèn

– Dế Mèn là một chú dế tự tin, yêu đời và luôn tự hào về bản thân mình, luôn hãnh diện với bà con hàng xóm vì vẻ ngoại hình và sức mạnh của mình.

– Dế Mèn tự cao, tự đắc, kiêu căng và xốc nổi.

3. Bài học đầu tiên của Dế Mèn

– Dế Mèn trêu chị Cốc, khiến chị nổi giận.

– Nhưng Dế Choắt lại là người phải chịu oan, bị chị Cốc mổ liên tiếp vào người.

– Chỉ đến khi Dế Choắt thoi thóp, Dế Mèn mới ân hận nhận ra lỗi lầm, tuy vậy cũng nhờ có Dế Choắt mà Dế Mèn có được bài học quý giá: “Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn cũng mang vạ vào mình đấy”.

III. Kết bài

Ý nghĩa nhân vật Dế Mèn: Bằng nghệ thuật miêu tả tài tình và bút pháp nhân hóa so sánh điêu luyện, nhà văn Tô Hoài đã cho người đọc thấy được chân dung sống động về một chú dế, bên cạnh đó còn rút ra những bài học sâu sắc trong cuộc sống, đó là phải luôn biết khiêm tốn, giúp đỡ người khác và khi mắc lỗi phải biết sửa chữa lỗi lầm.

Phân tích nhân vật Dế Mèn – Mẫu 1

“Dế Mèn phiêu lưu kí” là một tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Tô Hoài. Đến với đoạn trích “Bài học đường đời đầu tiên”, nhân vật Dế Mèn đã được nhà văn khắc họa qua nhiều phương diện khác nhau.

Trước hết là về ngoại hình. Dế Mèn đã tự giới thiệu về ngoại hình của bản thân. Vì ăn uống điều độ, làm việc có chừng mực nên Dế Mèn rất chóng lớn, trở thành một chàng dế thanh niên khỏe mạnh, cường tráng. Hình ảnh Dế Mèn hiện lên vô cùng chân thực, sinh động. Đôi càng thì “mẫm bóng” cùng “những cái móng vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt”. Thân hình “rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn”. Đầu “to ra và nổi từng tảng, rất bướng”. Hai cái răng thì đen nhánh và “lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc” cùng với sợi râu “dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng”. Với ngoại hình như vậy, Dế Mèn cảm thấy hết sức tự hào và kiêu ngạo.

Không chỉ về ngoại hình, nhà văn còn khéo léo khắc họa những hành động của nhân vật này. Để thử sự lợi hại của những chiếc móng, Dế Mèn đã “co cẳng lên đạp phanh phách vào các ngọn cỏ”. Cậu đã tự nhận xét về bản thân: “Cứ chốc chốc tôi lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu”, “thỉnh thoảng, tôi ngứa chân đá một cái”. Những hành động đã cho thấy sự khỏe mạnh, dũng mãnh của Dế Mèn.

Cùng với đó, nhà văn còn khắc họa nhân vật này qua những nét tính cách. Đó là một chàng dế kiêu căng, ngạo mạn. Mèn đã dám cà khịa với tất cả bà con trong xóm như quát mắng chị Cào Cào, ghẹo anh Gọng Vó. Nhất là đối với Dế Choắt – người bạn hàng xóm thì Dế Mèn luôn tỏ ra coi thường, chê bai. Một lần sang nhà Choắt chơi, Mèn đã lên tiếng chê: “Sao chú mày sinh sống cẩu thả quá như thế. Nhà cửa đâu mà tuềnh toàng… Ôi thôi, chú mày ơi! Chú mày có lớn mà chẳng có khôn..”. Đến khi Choắt muốn nhờ giúp đỡ, thì Dế Mèn lại khinh khỉnh: “Hức! Thông ngách sang nhà ta? Dễ nghe nhỉ? Chú mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được. Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. Đào tổ nông thì cho chết!”. Cách ứng xử này đã cho thấy sự ích kỉ của Dế Mèn.

Cuối cùng, Dế Mèn đã gây ra một lỗi lầm. Cậu đã bày trò trêu chị Cốc, khiến chị ta tức giận. Nhưng lại chỉ trốn trong hang mà không dám ra nhận lỗi. Cuối cùng, Dế Choắt là người chịu vạ lây. Trước khi chết, Dế Choắt đã đưa ra những lời khuyên chân thành cho Dế Mèn: “Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết suy nghĩ sớm muộn rồi cũng mang họa vào thân”. Nhờ vậy, Dế Mèn đã nhận thức được lỗi lầm của bản thân.

Nhân vật Dế Mèn được khắc họa mang những đặc điểm của truyện đồng thoại – vừa đặc điểm của loài vật, vừa mang những đặc điểm của con người. Ngôn ngữ giản dị, gần gũi với lời kể theo ngôi thứ nhất khiến cho truyện trở nên chân thực, hấp dẫn hơn.

Như vậy, nhân vật Dế Mèn là nhân vật trung tâm trong toàn bộ tác phẩm. Qua nhân vật này, tác giả cũng đã gửi gắm được bài học ý nghĩa cho người đọc.

Phân tích nhân vật Dế Mèn – Mẫu 2

Không chỉ ngoại hình, hành động của Dế Mèn cũng toát ra vẻ khỏe mạnh. Với cái móng vuốt nhọn hoắt, Dế Mèn đã “co cẳng lên đạp phanh phách vào các ngọn cỏ” để thử sự lợi hại của chúng. Những cử chỉ như “chốc chốc tôi lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu”, “thỉnh thoảng, tôi ngứa chân đá một cái” đã góp phần thể hiện sự khỏe khoắn, mạnh mẽ của Dế Mèn.

Cùng với ngoại hình, Dế Mèn còn được khắc họa qua nét tính cách. Cậu ta tự nhận xét về bản thân: “T ôi tợn lắm. Dám cà khịa với tất cả mọi bà con trong xóm. Khi tôi to tiếng thì ai cũng nhịn, không ai đáp lại. Bởi vì quanh quẩn, ai cũng quen thuộc mình cả”. Đặc biệt là với người bạn hàng xóm tên Dế Choắt. Một lần sang chơi nhà Choắt, Dế Mèn lên tiếng chê bai: “Sao chú mày sinh sống cẩu thả quá như thế. Nhà cửa đâu mà tuềnh toàng… Ôi thôi, chú mày ơi! Chú mày có lớn mà chẳng có khôn..”. Hay khi Choắt bày tỏ ý muốn Dế Mèn đào một cái ngách sang bên nhà của Mèn, để khi có kẻ đến bắt nạt thì giúp đỡ nhau. Nhưng Dế Mèn lại khinh khỉnh: “Hức! Thông ngách sang nhà ta? Dễ nghe nhỉ? Chú mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được. Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. Đào tổ nông thì cho chết!”.

Bởi tính căng kiêu căng, Dế Mèn đã gây ra một tai họa. Cậu ta bày trò trêu chị Cốc khiến chị ta nổi giận. Nhưng sau đó, Dế Mèn lại trốn biệt trong hang. Ngay cả khi Dế Choắt bị vạ lây, bị chị Cốc mổ cho đến chết. Dế Mèn vẫn không dám ra cứu bạn. Đến khi chị Cốc bay đi, Dế Mèn mới ra khỏi hang, hỏi han Dế Choắt nhưng đã quá muộn. Sự việc này cho thấy Dế Mèn là một kẻ nhút nhát, dám làm không dám chịu.

Trước khi chết, Dế Choắt đã đưa ra những lời khuyên chân thành cho Dế Mèn: “Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết suy nghĩ sớm muộn rồi cũng mang họa vào thân”. Câu nói của Choắt giống như một lời thức tỉnh cho Dế Mèn. Cậu ta đứng trước mộ của Choắt và nghĩ về bài học đường đời đầu tiên của mình.

Như vậy, nhân vật Dế Mèn trong đoạn trích đã được khắc họa rất sinh động. Qua sự việc xảy ra với Dế Mèn trong đoạn trích này, nhà văn cũng muốn gửi gắm bài học rằng ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có đầu óc mà không biết nghĩa sớm muộn rồi cũng mang vạ vào thân mình.

Phân tích nhân vật Dế Mèn – Mẫu 3

“Dế Mèn phiêu lưu ký” là một tác phẩm nổi tiếng dành cho thiếu nhi. Nổi bật trong truyện là Dế Mèn được nhà văn Tô Hoài khắc họa vô cùng chân thực và sinh động.

Dế Mèn chỉ vì thói kiêu căng, ngạo mạn của mình đã khiến cho Dế Choắt – người bạn hàng xóm yếu ớt phải chết oan uổng. Mở đầu đoạn trích, nhà văn đã khắc họa đặc điểm ngoại hình của Dế Mèn. Chàng ta hiện lên với một thân hình cường tráng, khỏe mạnh. Với đôi càng mẫm bóng, chiếc cánh ngày xưa chỉ như chiếc áo ghi lê ngắn tủn tới ngang mông thì nay dài như một chiếc áo khoác choàng ngoài. Cái đầu to nổi lên từng tảng trông rất oai vệ. Hàm răng đen nhánh sắc nhọn nhai cỏ cứ “ngoàm ngoạp” như một chiếc máy sản xuất, nên Dế Mèn càng lớn nhanh. Những bước đi bách bộ, cả người rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn. Chốc chốc dế ta lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu. Dế Mèn kiêu căng nghĩ mình là nhất nê dám cà khịa với tất cả mọi bà con trong xóm: quát mắng chị Cào Cào, đá ghẹo anh Gọng Vó… Có thể thấy rằng nhà văn Tô Hoài đã vô cùng tinh tế trong việc nhân vật Dế Mèn.

Nhưng một tình huống xảy ra khiến cho Dế Mèn không còn kiêu căng, ngạo mạn nữa. Dế Choắt – người bạn hàng xóm thường vị Dế Mèn giễu cợt vì vẻ ngoài ốm yếu còi cọc, quanh năm mắc bệnh hen suyễn động tí là thở dốc, mệt mỏi. Người Dế Choắt dài lêu nghêu như một người nghiện ma túy, trông thật xấu xí vô cùng. Nếu Dế Choắt luôn tôn trọng, thậm chí coi Dế Mèn là bậc đàn anh. Thì Dế Mèn lại thiếu tình thương sự cảm thông với bạn mình. Dế Choắt nhờ Dế Mèn đào một cái hang thông sang nhà, để phòng lúc hoạn nạn có chỗ thoát thân. Nhưng Dế Mèn lại lên giọng giễu cợt bạn rồi bỏ về. Một hôm, Dế Choắt và Dế Mèn đứng trước cửa hang của mình nhìn thấy chị Cốc đang tìm tôm tép kiếm ăn. Dế Mèn nổi hứng muốn chọc tức chị Cốc mặc Dế Choắt can ngăn. Cuối cùng, Dế Choắt phải chịu tội thay Dế Mèn, bị chị Cốc mổ cho đến chết. Nghe tiếng kêu thảm thiết của Dế Choắt, Dế Mèn kinh hãi nhưng cũng không dám ra cứu. Chờ tới lúc nghe ngóng tiếng bước chân chị Cốc đi xa rồi mới dám mò sang hang Dế Choắt xem tình hình thì thấy Dế Choắt nằm thoi thóp sắp chết rồi. Chỉ lúc này, Dế Mèn mới ân hận, nhận ra được sai lầm của mình.

Với đoạn trích này, nhà văn muốn gửi gắm cho các bạn nhỏ một lời khuyên sâu sắc: “ Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có đầu óc mà không biết nghĩa sớm muộn rồi cũng mang vạ vào thân mình”.

Phân tích nhân vật Dế Mèn – Mẫu 4

Dế Mèn phiêu lưu ký là một trong những sáng tác hay nhất của Tô Hoài dành cho thiếu nhi. Với đoạn trích “Bài học đường đời đầu tiên”, nhà văn đã khắc họa nhân vật Dế Mèn hiện lên chân thực, sinh động.

Dế Mèn được khắc họa đầu tiền qua vẻ đẹp về ngoại hình. Đó là một chàng dế cường tráng với một đôi càng “mẫm bóng” cùng “những cái móng vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt”. Người của Dế Mèn “rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn”. Không chỉ vậy, đầu của Dế Mèn còn “to ra và nổi từng tảng, rất bướng”. Và hai cái răng thì đen nhánh và “lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc” cùng với sợi râu “dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng”. Tiếp đến, Dế Mèn còn được miêu tả qua hành động. Với những cái móng vuốt nhọn hoắt của mình, Dế Mèn đã “co cẳng lên đạp phanh phách vào các ngọn cỏ” để muốn thử sự lợi hại của chúng. Hay như: “Cứ chốc chốc tôi lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu”, “thỉnh thoảng, tôi ngứa chân đá một cái”. Tất cả đặc điểm trên nhằm làm nổi bật nét tính cách của Dế Mèn: kiêu ngạo, hống hách và xốc nổi.

Nét tính cách của Dế Mèn còn được thể hiện qua thái độ của Dế Mèn đối với Dế Choắt. Khi thấy hàng xóm của mình trông gầy gò và ốm yếu. Dế Mèn không những không đồng cảm, mà còn chế giễu bạn của mình. Một lần sang chơi nhà Choắt, Dế Mèn lên tiếng chê bai: “Sao chú mày sinh sống cẩu thả quá như thế. Nhà cửa đâu mà tuềnh toàng…Ôi thôi, chú mày ơi! Chú mày có lớn mà chẳng có khôn..”. Hay khi Choắt bày tỏ ý muốn Dế Mèn đào một cái ngách sang bên nhà của Mèn, để khi có kẻ đến bắt nạt thì giúp đỡ nhau. Nhưng Dế Mèn lại khinh khỉnh: “Hức! Thông ngách sang nhà ta? Dễ nghe nhỉ? Chú mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được. Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. Đào tổ nông thì cho chết!”. Dáng vẻ yếu đuối, gầy gò của Dế Choắt không hề khiến cho một anh chàng mới lớn, khoẻ khoắn như Dế Mèn phải bận tâm. Đặc biệt nhất là tình huống dẫn đến cái chết thương tâm cho Choắt. Dế Mèn đã ngông cuồng trêu tức chị Cốc khiến chị ta nổi giận. Để rồi, Dế Choắt yếu ớt bị vạ lây, bị chị Cốc mổ cho đến chết. Cái mỏ của chị Cốc cứ thế giáng xuống thân hình gầy gò của Dế Choắt, đến khi chị đi rồi nó mới dám ra ngoài. Nó nhìn thấy bạn của mình không thể dậy được nữa cùng với những lời trăng trối, Dế Mèn vô cùng đau khổ, ân hận. Cái chết của Dế Choắt khiến cho Dế Mèn tỉnh ngộ, nhận ra sai lầm của bản thân.

Đoạn trích “Bài học đường đời đầu tiên” hiện lên với một bài học thấm thía về thói kiêu căng, ngạo mạn. Nhân vật Dế Mèn đã được Tô Hoài khắc họa ở đoạn trích này để nhằm gửi gắm bài học sâu sắc.

Phân tích nhân vật Dế Mèn – Mẫu 5

Truyện “Dế Mèn phiêu lưu ký” là một tác phẩm đặc sắc và nổi tiếng của nhà văn Tô Hoài dành cho lứa tuổi thiếu nhi. Đây là một câu chuyện đầy thú vị và hấp dẫn về hành trình phiêu lưu của Dế Mèn qua nhiều vùng đất của các loài vật khác nhau. Chương đầu tiên của chuyện là “Bài học đường đời đầu tiên” đã miêu tả rõ nét cả ngoại hình và tính cách của Dế Mèn, đồng thời đó cũng là câu chuyện về bài học đầu tiên của Dế Mèn.

Ngay phần mở đầu, nhà văn đã giới thiệu một cách chi tiết về chú dế này. Dế Mèn là một chú dế khỏe mạnh, cường tráng và có lối sống khoa học: “Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm”, “chẳng bao lâu tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng”. Dưới cái nhìn tinh tế, trí tưởng tượng phong phú và kỹ lưỡng, Tô Hoài đã tái hiện chân chung của một chàng dế thanh niên thật đẹp và sinh động: “thân hình cường tráng, đôi càng mẫm bóng, những vuốt ở chân và ở khoeo cứng và nhọn hoắt”, “ chỉ cần lia qua là những ngọn cỏ đã ngã rạp xuống”…

Dế Mèn luôn tự tin về bản thân mình, mỗi bước đi của cậu trở nên “trịnh trọng, khoan thai”, cho ra cái dáng điệu của “con nhà võ”. Không chỉ dừng lại ở việc miêu tả hình dáng bên ngoài của Dế Mèn, nhà văn còn đi sâu vào tính cách của chú dế này, cho người đọc cảm nhận một chú dế nhỏ bé cũng có những nét tính cách khác nhau. Dế Mèn là một chú dế tự tin, yêu đời và luôn tự hào về bản thân mình, luôn hãnh diện với bà con hàng xóm vì vẻ ngoại hình và sức mạnh của mình. Nhưng chính từ sự tự hào và tự tin thái quá của tuổi trẻ mà Dế Mèn lại trở thành kiểu tự cao, tự đắc, kiêu căng và xốc nổi.

Dế Mèn đem cái sức mạnh của mình đi để chòng ghẹo hàng xóm chứ không phải là giúp đỡ, hàng xóm chỉ là nhường nhịn không thèm chấp với Mèn nhưng chú lại nghĩ đó là họ sợ mình, không ai dám đối đầu với mình. Chính vì thế sự ảo tưởng ngông cuồng của Dế Mèn lại càng được đà đẩy lên cao, bản thân tự cho mình là “một tay ghê gớm, có thể sắp đứng đầu thiên hạ rồi”. Rồi chính bản tính kiêu căng, hống hách và ngông cuồng ấy của Dế Mèn đã để lại cho chú dế một bài học nhớ đời, bài học đắt giá ấy đã đánh đổi bằng cả mạng sống của anh bạn hàng xóm là Dế Choắt.

Trái ngược hoàn toàn với Dế Mèn, Dế Choắt là một kẻ gầy gò, ốm yếu, bộ dạng không có sức sống lại không có sức làm. Dế Mèn là hàng xóm nhưng lại chỉ biết chê bai, khinh bỉ, khi Dế Choắt nhờ giúp cũng chẳng bận tâm. Bản tính ngông cuồng của Dế Mèn đã nảy ra ý tưởng trêu chị Cốc, hắn rủ Dế Choắt nhưng Dế Choắt thì sợ không dám, còn căn ngăn nhưng không được. Sau khi trêu chị Cốc, Dế Mèn thì chui tọt vào hang sâu của mình lẩn trốn, mà đâu ngờ người bị chị Cốc tóm được lại là Choắt, Dế Choắt đã gánh chịu mọi hậu quả từ trò đùa dại dột của Dế Mèn. Chỉ đến khi Dế Choắt thoi thóp, Dế Mèn mới ân hận nhận ra lỗi lầm, tuy vậy cũng nhờ có Dế Choắt mà Dế Mèn có được bài học quý giá: “Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn cũng mang vạ vào mình đấy”.

Bằng nghệ thuật miêu tả tài tình và bút pháp nhân hóa so sánh điêu luyện, nhà văn Tô Hoài đã cho người đọc thấy được chân dung sống động về một chú dế. Bên cạnh đó còn rút ra những bài học sâu sắc trong cuộc sống, đó là phải luôn biết khiêm tốn, giúp đỡ người khác và khi mắc lỗi phải biết sửa chữa lỗi lầm.

Phân tích nhân vật Dế Mèn – Mẫu 6

“Dế Mèn phiêu lưu ký” là truyện thiếu nhi đặc sắc nhất của nhà văn Tô Hoài. Đây là câu chuyện đầy thú vị, hấp dẫn về hành trình phiêu lưu của chú Dế Mèn qua nhiều vùng đất và thế giới của các loài vật khác, nhằm thể hiện khát vọng tươi đẹp của tuổi trẻ. Đoạn trích “Bài học đường đời đầu tiên” là đoạn trích miêu tả sinh động vẻ đẹp ngoại hình của chàng dế mới lớn nhưng tính nết còn kiêu căng, xốc nổi, sau một lần ngỗ nghịch dại dột đáng ân hận suốt đời đã rút ra bài học đầu tiên cho chính mình.

Gia đình Dế Mèn có ba anh em, sau vài ngày hạ sinh mẹ Dế Mèn quyết định cho anh em nhà dế ra ở riêng. Đây là điều kiện thuận lợi để dế ta có thể thoải mái khám phá thế giới, trải nghiệm cuộc sống đầy màu sắc và thú vị. Ngay đoạn văn mở đầu Tô Hoài đã cho người đọc thấy Dế Mèn cũng là người biết sống khoa học: “Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm”, chính nhịp sinh hoạt đều đặn như vậy mà “Chẳng bao lâu tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng”. Bằng sự quan sát tỉ mỉ, kỹ lưỡng nhà văn đã tái hiện chân dung của một cậu chàng dế mới lớn thật đẹp đẽ, sinh động. Thân hình chú cường tráng, đôi càng mẫm bóng, những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ ngày một cứng dần lên và nhọn hoắt chẳng khác nào một lưỡi kiếm, chỉ cần lia qua là những ngọn cỏ đã ngã rạp xuống. Đôi cánh dài, kín xuống tận chấm đuôi. Thân hình mang một màu nâu bóng mỡ, có thể soi gương được trông rất khỏe khoắn, chính vậy cậu chàng rất tự tin và nhận xét bản thân là rất ưa nhìn. Sợi râu dài, uốn cong, hàm răng đen nhánh như hai lưỡi máy làm việc, làm cho Dế Mèn càng tự hào hơn nữa về bản thân mình, bởi vậy mỗi bước đi của Mèn cũng trở nên trịnh trọng, khoan thai cho ra dáng kiểu cách con nhà võ.

Không dừng lại ở đó, qua các chi tiết miêu tả về ngoại hình Tô Hoài còn hé lộ những nét tính cách khác nhau của Dế Mèn. Mèn là thanh niên tự tin, yêu đời, luôn tự hào về bản thân, “hãnh diện” với bà con, hàng xóm về cặp râu dài uốn cong của mình, tự hào về vẻ đẹp khỏe khoắn với thân hình mang màu nâu bóng mỡ, răng như hai lưỡi liềm máy. Nhưng khốn nỗi, Mèn còn là một kẻ kiêu căng, xốc nổi, dám đi chòng ghẹo những người hàng xóm mà không biết rằng kì thực họ chỉ nhường nhịn và không muốn chấp với mình. Bản thân luôn tự cho rằng mình là một tay ghê gớm, “có thể sắp đứng đầu thiên hạ rồi” .

Bản tính kiêu căng, hống hách đã khiến cho Dế Mèn có bài học nhớ đời, bài học đắt giá ấy phải trả bằng mạng sống của người bạn hàng xóm – Dế Choắt. Dế Choắt là một kẻ gầy gò, ốm yếu (cái cánh ngắn hủn hoẳn, người dài lêu nghêu như gã nghiện thuốc phiện, ăn ở luộm thuộm…) đã có lần nhờ Mèn ta giúp đỡ, nhưng trái lại với sự khẩn cầu của mình, Choắt chỉ nhận được thái độ khinh thường và từ chối của Dế Mèn. Nhưng Dế Mèn không hề quan tâm đến chuyện ấy. Bản tính kiêu ngạo đã khiến Dế Mèn dám cả gan trêu chị Cốc và rủ Dế Choắt tham gia cùng. Sau những lời chọc ghẹo ngu dại của mình, Mèn ta chui vào hang sâu nằm khểnh mà không lường được trước rằng Dế Choắt lại là người phải gánh chịu hậu quả của trò đùa dại dột ấy. Chỉ đến khi nhìn thấy Dế Choắt tắt thở, lúc bấy giờ Dế Mèn mới ân hận, nhưng sự ân hận đã quá muộn màng. Trước khi chết Dế Choắt có nói: “Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn cũng mang vạ vào mình đấy” . Câu nói vào giờ phút cuối cùng của cuộc đời Dế Choắt đã làm cho Dế Mèn thức tỉnh, rút ra bài học sâu sắc cho bản thân về thái độ sống, về lòng tốt với những người xung quanh, và về tình bạn chân thành.

Nghệ thuật nhân hóa tài tình, với óc tưởng tượng phong phú, những hình ảnh so sánh độc đáo, giàu chất tạo hình. Ngoài ra, vốn ngôn từ đa dạng với hệ thống động từ, tính từ phong phú, sinh động cùng với lời kể dung dị, tự nhiên, như lời ăn tiếng nói hàng ngày “con nhà võ” “mưa dầm sùi sụt” … tác giả đã làm nổi bật chân dung cũng như tính cách của Dế Mèn.

Bằng nghệ thuật miêu tả tài tình, bút pháp nhân hóa, so sánh điêu luyện, qua nhân vật Dế Mèn, Tô Hoài không chỉ cho ta thấy chân dung của một cậu chàng thanh niên khỏe mạnh cường tráng, tự tin. Mà còn để lại cho người đọc những bài học sâu sắc trong cuộc sống: sống ở đời phải biết khiêm nhường, luôn quan tâm giúp đỡ những người xung quanh, khi mắc lỗi sai phải biết hối cải và sửa chữa những lỗi lầm đó.

Phân tích nhân vật Dế Mèn – Mẫu 7

“Dế Mèn phiêu lưu ký” là tác phẩm đặc sắc và nổi tiếng nhất của nhà văn Tô Hoài viết về loài vật, dành cho lứa tuổi thiếu nhi (truyện đồng thoại). Trong truyện, Dế Mèn là nhân vật chính đã trải qua những cuộc phiêu lưu lý thú, đầy mạo hiểm. Sự trải nghiệm cuộc đời của Dế Mèn, những bài học mà Dế Mèn rút ra qua bao nhiêu hiểm nguy sóng gió chính là hành trang để Mèn bước vào đời và trở thành một chàng Dế cao thượng. Chính vì thế, có thể nói rằng cuộc đời của Dế Mèn là một bài học lớn: đi một ngày đàng, học một sàng khôn.

Trước hết, ta bắt gặp một chàng dế thanh niên đẹp trai “cả thân mình là một màu nâu bóng mỡ rồi cánh, râu, vuốt… của Dế Mèn đều toát lên vẻ đẹp đó. Có thể nói, không ai lại không thích cái vẻ khoẻ khoắn ấy. Đúng là một “thanh niên” như nhà văn Tô Hoài đã gọi tên. Người đọc không chỉ có thiện cảm với vẻ cường tráng của Mèn, chúng ta chắc cũng thích cách làm việc, sinh hoạt “ điều độ, chừng mực”, cái sự biết lo xa của một chú dế đang còn thanh niên qua việc chú biết đào hang nhiều ngách, luyện tập để cơ thể khỏe mạnh…

Tuy nhiên bên cạnh nhiều điểm đáng mến ấy, Dế Mèn cũng còn những nét tính cách chưa tốt khiến cho người đọc bớt đi thiện cảm với cậu. Trước hết phải nói đến thói kiêu ngạo. Biết mình có vẻ đẹp cường tráng, có những cái ưu điểm lợi hại cậu thường thử sức hay đúng hơn là khoe sự lợi hại đó bằng việc đạp gãy cỏ trong vùng. Rồi để khoe cặp râu và đôi cánh cậu chọn cách đi đứng nhún nhảy cho ra vẻ…

Tuy nhiên, thói xấu ấy chưa gây hậu quả, chưa làm hại ai, bởi thế ở chừng mực nào đấy, chúng ta có thể thông cảm với cậu. Nhưng đến khi, sự kiêu ngạo, coi thường người khác ngày càng lớn và bị đẩy đến đỉnh điểm thì nó đã gây hậu quả ghê gớm mà chính Dế Mèn cũng không hề lường trước. Coi thường Dế Choắt, không thèm giúp Choắt đào hang rồi hơn nữa, trêu chọc chị Cốc, gây hiểu lầm và Dế Choắt là người chịu hậu quả. Cái chết thương tâm và lời trăng trối của Dế Choắt làm Mèn tỉnh ngộ, nhận ra sự ngông cuồng và hậu quả vô cùng tai hại mà mình gây ra. Kết thúc đoạn trích là cảnh Dế Mèn đắp mộ cho Dế Choắt trong nỗi đau đớn, xót xa và ân hận day dứt khôn nguôi. Cái chết và nấm mộ của Dế Choắt là lời nhắc nhở, hơn thế là bài học đầu đời đắt giá cho Dế Mèn. Câu chuyện về Dế Mèn mà nhà văn kể trong đoạn trích thật hay và ý nghĩa. Qua câu chuyện về Dế Mèn, ta bắt gặp hình ảnh con người. Chính xác hơn là hình ảnh những chàng trai mới lớn, chập chững bước vào đời. Nhiều nhiệt huyết, giàu sức trẻ và ước muốn làm chủ, khám phá thế giới nhưng cũng dễ vấp váp, sai lầm. Và điều quan trọng hơn, chính là lời nhắc nhở phải biết nhận ra và sửa chữa những sai lầm mình mắc phải.

Nhân vật Dế mèn trong tác phẩm “Dế mèn phiêu lưu ký” là một nhân vật văn học quen thuộc, thân yêu của các em thiếu nhi. Qua những cuộc phiêu lưu của Dế Mèn, ta nhận ra rằng: trường đại học chân chính nhất để rèn luyện con người chính là cuộc đời.

Phân tích nhân vật Dế Mèn – Mẫu 8

Truyện “Dế Mèn phiêu lưu ký” là một tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Tô Hoài. Truyện kể về những cuộc phiêu lưu của nhân vật chính là Dế Mèn qua thế giới những loài vật nhỏ bé. Đến với đoạn trích “Bài học đường đời đầu tiên”, nhà văn đã khắc họa được hình ảnh nhân vật Dế Mèn.

Vẻ đẹp ngoại hình của Dế Mèn được nhà văn miêu tả qua từng bộ phận. Đầu tiên là một đôi càng “mẫm bóng” cùng “những cái móng vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt”. Người của Dế Mèn “rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn”. Không chỉ vậy, đầu của Dế Mèn còn “to ra và nổi từng tảng, rất bướng”. Và hai cái răng thì đen nhánh và “lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc” cùng với sợi râu “dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng”. Hình ảnh Dế Mèn được Tô Hoài khắc họa hiện lên giống như một chàng trai đầy khỏe mạnh.

Nhưng không dừng lại ở đó, Dế Mèn còn được miêu tả qua hành động. Với những cái móng vuốt nhọn hoắt của mình, Dế Mèn đã “co cẳng lên đạp phanh phách vào các ngọn cỏ” để muốn thử sự lợi hại của chúng. Hay như: “Cứ chốc chốc tôi lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu”, “thỉnh thoảng, tôi ngứa chân đá một cái”. Đằng sau cái dáng vẻ ưa nhìn, khỏe khoắn còn là cái vẻ kiêu căng, tự phụ đến mức nó tự nghĩ mình “có thể sắp đứng đầu thiên hạ rồi”.

Đặc biệt, tính cách của Dế Mèn còn được thể hiện qua thái độ của Dế Mèn đối với Dế Choắt. Thấy người bạn hàng xóm của mình trông gầy gò và ốm yếu. Dế Mèn không những không đồng cảm, mà còn chế giễu bạn của mình. Một lần sang chơi nhà Choắt, Dế Mèn lên tiếng chê bai: “Sao chú mày sinh sống cẩu thả quá như thế. Nhà cửa đâu mà tuềnh toàng…Ôi thôi, chú mày ơi! Chú mày có lớn mà chẳng có khôn..”. Hay khi Choắt bày tỏ ý muốn Dế Mèn đào một cái ngách sang bên nhà của Mèn, để khi có kẻ đến bắt nạt thì giúp đỡ nhau. Nhưng Dế Mèn lại khinh khỉnh: “Hức! Thông ngách sang nhà ta? Dễ nghe nhỉ? Chú mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được. Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. Đào tổ nông thì cho chết!”. Dáng vẻ yếu đuối, gầy gò của Dế Choắt không hề khiến cho một anh chàng mới lớn, khoẻ khoắn như Dế Mèn phải bận tâm. Chỉ đến khi hành động dại dột của Dế Mèn đã dẫn đến cái chết thương tâm cho Choắt. Dế Mèn đã ngông cuồng trêu tức chị Cốc mặc kệ lời van xin của Dế Choắt đừng nên trêu vào chị Cốc. Đến khi chị Cốc nổi giận, Dế Mèn lại chỉ biết trốn tránh trách nhiệm. Để rồi Dế Choắt lại chính là người chịu tội thay. Cái mỏ của chị Cốc cứ thế giáng xuống thân hình gầy gò của Dế Choắt, đến khi chị đi rồi nó mới dám ra ngoài. Nó nhìn thấy bạn của mình không thể dậy được nữa cùng với những lời trăng trối, Dế Mèn vô cùng đau khổ, ân hận. Nó nhận ra những sai lầm của mình cùng tính ngông nghênh, ngạo mạn của bản thân. Cái chết của Dế Choắt chính là bài học đường đời đầu tiên vô cùng đắt giá của nó.

Có thể thấy, nhân vật Dế Mèn đã được Tô Hoài khắc họa với những nét đẹp về ngoại hình và tính cách rất sinh động trong đoạn trích “Bài học đường đời đầu tiên”.

Phân tích nhân vật Dế Mèn – Mẫu 9

“Bài học đường đời đầu tiên” là một đoạn trích hấp dẫn trong truyện “Dế Mèn phiêu lưu ký”. Đoạn trích đã khắc họa nhân vật Dế Mèn khỏe mạnh nhưng hống hách, coi thường người khác. Cũng bởi tính xấu ấy mà nó đã gây ra cái chết của Dế Choắt. Cuối cùng Dế Mèn đã nhận được một bài học đường đời đầu tiên vô cùng đắt giá.

Đầu tiên, nhà văn đã khắc họa Dế Mèn qua ngoại hình. Trước hết là một đôi càng “mẫm bóng” cùng “những cái móng vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt”. Người của Dế Mèn “rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn”. Không chỉ vậy, đầu của Dế Mèn còn “to ra và nổi từng tảng, rất bướng”. Và hai cái răng thì đen nhánh và “lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc” cùng với sợi râu “dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng”. Có thể thấy, Dế Mèn hiện lên với một thân hình cường tráng.

Về tính cách, Dế Mèn ngay từ nhỏ đã sống rất tự lập. Nên chú thích đi phiêu lưu khắp nơi. Dế Mèn đi đến đâu cũng đều khiến các con vật nhỏ bé khiếp sợ. Hàng xóm của chú – Dế Choắt lại là một chú dế gầy gò, ốm yếu. Bởi vậy mà Dế Mèn tỏ ra coi thường bạn hàng xóm của mình. Nhưng cũng chính vì vậy mà Dế Mèn đã phải nhận một bài học “đường đời đầu tiên”. Câu chuyện bắt đầu khi Dế Mèn luôn coi khinh Dế Choắt. Nó cho rằng mình luôn là người mạnh nhất, một người có tầm nhìn xa trông rộng. Có thể kể đến việc khi Dế Choắt ngỏ ý muốn đào ngách thông sang nhà Dế Mèn để khi gặp chuyện thì có thể giúp đỡ nhau, Dế Mèn đã tỏ vẻ khinh bỉ rồi không chấp nhận. Câu chuyện được đẩy lên cao trào khi Dế Mèn cố tính trêu đùa chị Cốc ốc, khiến chị Cốc nổi giận. Ban đầu, Dế Mèn kiêu ngạo bao nhiêu thì bây giờ lại trở nên nhát gan bấy nhiêu. Dế Mèn nhanh chóng chui vào hang, lên giường nằm khểnh bắt chân chữ ngũ. Để rồi để Dế Choắt tội nghiệp phải chịu nỗi oan ức, bị chị Cốc mổ cho đến kiệt sức. Dế Mèn chứng kiến tất cả nhưng vẫn nằm im thin thít. Đến khi Cốc đi rồi mới dám chui ra. Nhưng cuối cùng Dế Choắt đã chết. Dế Choắt đã đưa ra những lời khuyên chân thành cho Dế Mèn: “Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết suy nghĩ sớm muộn rồi cũng mang họa vào thân”. Cái chết của Dế Choắt đã thức tỉnh Dế Mèn. Sau khi chôn cất Choắt xong xuôi, Dế Mèn “đứng lặng giờ lâu, nghĩ về bài học đường đời đầu tiên của mình”. Nó đã nhận được bài học đầu tiên.

Dế Mèn ân hận về cách đối xử của mình với Dế Choắt. Nó hối hận khi đã gián tiếp gây ra cái chết của Dế Choắt. Nó tự trách mình rằng nó là một kẻ có sức mạnh nhưng lại chỉ biết trốn tránh một cách nhát gan. Chôn cất Dế Choắt xong, cảm giác của nó thật hụt hẫng và bất lực bởi Dế Choắt đã chết rồi, đâu thể cứu vãn được nữa. Dế Mèn đứng lặng bởi nó muốn suy nghĩ một cách nghiêm túc về cách sống của mình trong suốt thời gian qua. Nhận ra bài học đó, nó tự hứa từ nay sẽ sống chan hòa với mọi người.

Tóm lại, nhân vật Dế Mèn hiện lên thật chân thực qua ngòi bút của nhà văn Tô Hoài. Đoạn trích “Bài học đường đời đầu tiên” quả là một đoạn trích đặc sắc.

Phân tích nhân vật Dế Mèn – Mẫu 10

“Dế Mèn phiêu lưu ký” là một tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Tô Hoài. Nổi bật trong tác phẩm là nhân vật chính – Dế Mèn hiện lên đầy chân thực, sinh động.

Dế Mèn được xây dựng với nhưng đặc điểm của một nhân vật trong truyện đồng thoại. Dế Mèn vừa mang những đặc điểm của loài dế, lại vừa có những đặc điểm của con người. Trước hết, Tô Hoài đã khắc họa nhân vật này qua những nét ngoại hình. Một chàng dế khỏe mạnh. cường tráng với một đôi càng “mẫm bóng” cùng “những cái móng vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt”. Nhà văn đã có những câu văn miêu tả: “rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn”. Đầu của Dế Mèn còn “to ra và nổi từng tảng, rất bướng”. Cùng với hai cái răng thì đen nhánh và “lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc” và sợi râu “dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng”. Không chỉ ngoại hình, mà hành động của Dế Mèn cũng cho thấy được sự khỏe mạnh, cường tráng. Với những cái móng vuốt nhọn hoắt của mình, Dế Mèn đã “co cẳng lên đạp phanh phách vào các ngọn cỏ” để muốn thử sự lợi hại của chúng. Rồi “Cứ chốc chốc tôi lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu”, “thỉnh thoảng, tôi ngứa chân đá một cái”.

Advertisement

Tiếp đến, nhà văn đã xây dựng tính cách của nhân vật Dế Mèn. Chàng ta mang những nét tính cách của con người: kiêu căng, ngạo mạn và hống hách. Điều đó được thể hiện qua thái độ với nhân vật Dế Choắt. Khi thấy Choắt trông thật gầy gò và ốm yếu. Dế Mèn không những không đồng cảm, mà còn chế giễu bạn của mình. Một lần sang chơi nhà Choắt, Dế Mèn lên tiếng chê bai: “Sao chú mày sinh sống cẩu thả quá như thế. Nhà cửa đâu mà tuềnh toàng…Ôi thôi, chú mày ơi! Chú mày có lớn mà chẳng có khôn..”. Hay khi Choắt bày tỏ ý muốn Dế Mèn đào một cái ngách sang bên nhà của Mèn, để khi có kẻ đến bắt nạt thì giúp đỡ nhau. Nhưng Dế Mèn lại khinh khỉnh: “Hức! Thông ngách sang nhà ta? Dễ nghe nhỉ? Chú mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được. Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. Đào tổ nông thì cho chết!”.

Cái dáng vẻ yếu đuối của Dế Choắt khiến cho Dế Mèn cảm thấy khinh khỉnh, coi thường. Đặc biệt nhất là tình huống dẫn đến cái chết thương tâm cho Choắt. Dế Mèn đã ngông cuồng trêu tức chị Cốc khiến chị ta nổi giận. Dế Choắt yếu ớt bị vạ lây, bị chị Cốc mổ cho đến chết. Cái mỏ của chị Cốc cứ thế giáng xuống thân hình gầy gò của Dế Choắt, đến khi chị đi rồi nó mới dám ra ngoài. Nó nhìn thấy bạn của mình không thể dậy được nữa cùng với những lời trăng trối, Dế Mèn vô cùng đau khổ, ân hận. Nhờ cái chết của Dế Choắt, Dế Mèn đã nhận ra bài học đường đời đầu tiên.

Nhà văn Tô Hoài đã xây dựng hình ảnh nhân vật Dế Mèn trong đoạn trích “Bài học đường đời đầu tiên” nhằm gửi gắm một bài học nhân văn sâu sắc.

Phân tích nhân vật Dế Mèn – Mẫu 11

Một trong những tác phẩm nổi tiếng viết cho thiếu nhi là “Dế Mèn phiêu lưu kí” của nhà văn Tô Hoài. Trong “Bài học đường đời đầu tiên”, nhân vật chính trong truyện là Dế Mèn đã được tác giả khắc họa rất sinh động.

Nhà văn đã xây dựng Dế Mèn là một nhân vật trong truyện đồng thoại. Ở nhân vật này vừa có những đặc điểm của loài vật, lại vừa có những đặc điểm của con người. Đầu tiên, Dế Mèn được khắc họa qua những nét ngoại hình. Một chàng dế với đôi càng “mẫm bóng” cùng “những cái móng vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt”. Thân hình của chàng ta “rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn”. Đầu của Dế Mèn còn “to ra và nổi từng tảng, rất bướng”. Hai cái răng thì đen nhánh và “lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc” cùng với sợi râu “dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng”. Tiếp đến, nhà văn còn miêu tả hành động của nhân vật này. Với những cái móng vuốt nhọn hoắt của mình, Dế Mèn đã “co cẳng lên đạp phanh phách vào các ngọn cỏ” để muốn thử sự lợi hại của chúng. Hay như: “Cứ chốc chốc tôi lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu”, “thỉnh thoảng, tôi ngứa chân đá một cái”. Từ ngoại hình đến hành động đều cho thấy sự khỏe mạnh, cường tráng của Dế Mèn.

Không chỉ là ngoại hình, Tô Hoài còn xây dựng cho Dế Mèn những nét tính cách tiêu biểu. Đó là một chàng thanh niên hung hăng, ngang ngược và kiêu ngạo. Dế Mèn nghĩ mình là nhất nên dám cà khịa với tất cả mọi bà con trong xóm: quát mắng chị Cào Cào, đá ghẹo anh Gọng Vó hay đặc biệt là anh bạn hàng xóm Dế Choắt. Một lần sang chơi nhà Choắt, Dế Mèn lên tiếng chê bai:“Sao chú mày sinh sống cẩu thả quá như thế. Nhà cửa đâu mà tuềnh toàng… Ôi thôi, chú mày ơi! Chú mày có lớn mà chẳng có khôn..”. Hay khi Choắt bày tỏ ý muốn Dế Mèn đào một cái ngách sang bên nhà của Mèn, để khi có kẻ đến bắt nạt thì giúp đỡ nhau. Nhưng Dế Mèn lại khinh khỉnh: “Hức! Thông ngách sang nhà ta? Dễ nghe nhỉ? Chú mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được. Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. Đào tổ nông thì cho chết!”. Và đặc biệt nhất là tình huống dẫn đến cái chết thương tâm cho Choắt. Dế Mèn đã ngông cuồng trêu tức chị Cốc khiến chị ta nổi giận. Để rồi, Dế Choắt yếu ớt bị vạ lây, bị chị Cốc mổ cho đến chết. Cái mỏ của chị Cốc cứ thế giáng xuống thân hình gầy gò của Dế Choắt, đến khi chị đi rồi nó mới dám ra ngoài. Dế Choắt đã kiệt sức mà chết. Trước khi chết, Dế Choắt đã đưa ra những lời khuyên chân thành cho Dế Mèn: “Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết suy nghĩ sớm muộn rồi cũng mang họa vào thân”. Câu nói của Choắt giống như một lời thức tỉnh dành cho Dế Mèn, để cậu ta nhận ra bài học cho chính bản thân mình.

Sau khi chôn cất Dế Choắt xong, cảm giác của nó thật hụt hẫng và bất lực bởi Dế Choắt đã chết rồi, đâu thể cứu vãn được nữa. Dế Mèn đứng lặng bởi nó muốn suy nghĩ một cách nghiêm túc về cách sống của mình trong suốt thời gian qua. Bài học đường đời đầu tiên nhưng Dế Mèn đã phải trải một cái giá quá đắt. Như vậy, nhân vật Dế Mèn đã được Tô Hoài được nhà văn khắc họa nhằm gửi gắm những bài học ý nghĩa trong cuộc sống.

Phân tích nhân vật Dế Mèn – Mẫu 12

Tô Hoài có nhiều tác phẩm viết cho thiếu nhi. Một trong số đó là “Dế Mèn phiêu lưu kí”. Ở chương mở đầu, tác giả đã khắc họa nhân vật Dế Mèn hiện lên vô cùng chân thức, cùng với đó là câu chuyện về bài học đầu tiên của nhân vật này.

Bởi ăn uống điều độ, làm việc có chừng mực nên Dế Mèn rất chóng lớn. Chẳng bao lâu thì Mèn ta đã trở thành một chàng dế thanh niên khỏe mạnh, cường tráng. Đôi càng thì “mẫm bóng” cùng “những cái móng vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt”. Thân hình “rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn”. Đầu “to ra và nổi từng tảng, rất bướng”. Hai cái răng thì đen nhánh và “lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc” cùng với sợi râu “dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng”. Có thể thấy rằng, Tô Hoài đã khắc họa ngoại hình của Dế Mèn vô cùng sinh động.

Nhà văn đã vô cùng khéo léo khi sử dụng các biện pháp tu từ kết để khắc họa Dế Mèn hiện lên như một chàng trai tràn đầy sức sống và tự tin. Với những cái móng vuốt nhọn hoắt của mình, khi muốn thử sự lợi hại của chúng, chú lại “co cẳng lên đạp phanh phách vào các ngọn cỏ”. Dế Mèn còn tự nói về mình đầy tự hào: “Cứ chốc chốc tôi lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu”, “thỉnh thoảng, tôi ngứa chân đá một cái”.

Bên cạnh đó, Dế Mèn còn hiện lên với những nét tính cách. Đó là một chàng thanh niên hung hăng, ngang ngược và kiêu ngạo. Dế Mèn nghĩ mình là nhất nên dám cà khịa với tất cả mọi bà con trong xóm: quát mắng chị Cào Cào, đá ghẹo anh Gọng Vó. Đặc biệt là với anh bạn hàng xóm Dế Choắt: “Sao chú mày sinh sống cẩu thả quá như thế. Nhà cửa đâu mà tuềnh toàng… Ôi thôi, chú mày ơi! Chú mày có lớn mà chẳng có khôn..”. Cả khi Dế Choắt muốn nhờ giúp đỡ, thì Dế Mèn lại khinh khỉnh: “Hức! Thông ngách sang nhà ta? Dễ nghe nhỉ? Chú mày hôi như cú mèo thế này, ta nào chịu được. Thôi, im cái điệu hát mưa dầm sùi sụt ấy đi. Đào tổ nông thì cho chết!”.

Chính bởi cái thói kiêu căng, ngạo mạn mà Dế Mèn đã phải nhận bài học vô cùng quý giá. Dế Mèn bày trò trêu chị Cốc, khiến chị ta tức giận. Nhưng sau đó, cậu ta chỉ dám nằm yên trong tổ, không dám ra nhận lỗi. Cuối cùng, Dế Choắt đáng thương bị chị Cốc mổ cho đến chết. Trước khi chết, Dế Choắt đã đưa ra những lời khuyên chân thành cho Dế Mèn: “Ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết suy nghĩ sớm muộn rồi cũng mang họa vào thân”. Chính nhờ câu nói đó, Dế Mèn mới thức tỉnh, nhận ra lỗi lầm. Có thể thấy rằng nhân vật Dế Mèn là nhân vật tiêu biểu của truyện đồng thoại – được tác giả xây dựng vừa mang những đặc điểm của loài vật, vừa mang những đặc điểm của con người.

Dế Mèn là nhân vật trung tâm trong toàn bộ tác phẩm. Qua nhân vật Dế Mèn, tác giả cũng đã gửi gắm được bài học ý nghĩa cho người đọc.

Cập nhật thông tin chi tiết về Văn Mẫu Lớp 6: Tóm Tắt Truyện Buổi Học Cuối Cùng Những Bài Văn Hay Lớp 6 trên website Pwqy.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!